https://vjde.vn/journal/issue/feed Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2023-07-01T14:20:22+00:00 GS.TS Nguyễn Hải Thủy- Trưởng ban [email protected] Open Journal Systems <p><strong>Giới thiệu chung</strong></p> <p>Tạp chí Nội tiết- Đái tháo đường Việt Nam đã được ra đời theo quyết định số 1740/GP-BTTT ngày 18 tháng 11 năm 2010, do Thứ trưởng Bộ Thông tin- Truyền thông Đỗ Quý Doãn ký. Tạp chí được Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học- Công nghệ cấp Mã số chuẩn quốc tế ISSN 1859 – 4727 theo Quyết định số 18/TTKHCN – ISSN, do Cục trưởng Tạ Bá Hưng ký ngày 11/4/2012. Tạp chí đã được Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước tính điểm công trình: 0- 0,5.</p> <p>Tạp chí là nơi đăng tải tất cả các thông tin, hoạt động khoa học cập nhật của chuyên ngành Nội tiết, ĐTĐ, Rối loạn chuyển hóa trong cả nước và thế giới.</p> <p>Tạp chí cũng được công bố online tất cả các số tại địa chỉ: <a href="http://vjde.vn/">http://vjde.vn/</a></p> <p> </p> https://vjde.vn/journal/article/view/974 Đái tháo đường và suy tim 2023-07-01T03:54:58+00:00 Nguyễn Hải Thủy [email protected] <p>Đái tháo đường (ĐTĐ) và Suy tim (ST) có liên quan chặt chẽ với nhau: bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ có nguy cơ mắc bệnh ST cao hơn và những người bị ST có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ cao hơn. Sự phối hợp bệnh ĐTĐ và ST trên cùng bệnh nhân thường gặp trên lâm sàng và liên quan đến nguy cơ nhập viện do ST, tử vong do tim mạch và mọi nguyên nhân. Nhiều thống kê ghi nhận hàng chục triệu bệnh nhân bị ST và ĐTĐ, đồng thời tỷ lệ đồng mắc cả hai bệnh này tăng dần theo thời gian. ST và ĐTĐ xảy ra đồng thời có tiên lượng xấu hơn so với từng bệnh riêng lẻ. Vì thế quản lý chăm sóc ĐTĐ là rất quan trọng để ngăn ngừa ST. Tổng quan này nhằm xem xét tỷ lệ mắc bệnh ST và ĐTĐ và tương quan về tiên lượng cũng như cung cấp thông tin cơ bản về bệnh cơ tim đái tháo đường, bao gồm sinh lý bệnh, tập trung vào mối quan hệ giữa ĐTĐ và ST với phân suất tống máu được bảo tồn và tóm tắt tiềm năng của hormone Aldosterone và thụ thể corticoid khoáng (mineralocorticoid) để quản lý ST và ĐTĐ. Thuốc ức chế đồng vận chuyển natri-glucose 2 là một nhóm thuốc hạ đường huyết gần đây và vai trò của thuốc này trên bệnh nhân ĐTĐ mắc ST đã được xem xét để thiết lập các khái niệm cập nhật và toàn diện nhằm cải thiện chăm sóc y tế tối ưu trong thực hành lâm sàng.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/975 Cập nhật điều trị bệnh đái tháo đường ở bệnh nhân COVID - 19 2023-07-01T04:15:22+00:00 Nguyễn Đức Hoàng [email protected] <p>Nhiễm COVID-19 (Coronavirus Disease -2019) là một thách lớn đối với những bệnh nhân đái tháo đường, có 02 thách thức: Thứ nhất, đái tháo đường được cảnh báo là một yếu tố nguy cơ cao làm tăng nặng mức độ trầm trọng của tình trạng nhiễm COVID-19. Thứ hai, việc kiểm soát đường huyết tối ưu bệnh nhân đái tháo đường ở bệnh nhân COVID-19 trong thời gian này là khá khó khăn. Duy trì glucose máu từ 6 đến 10 mmol/L (có thể chấp nhận &lt; 12 mmol/L) ở bệnh nhân bệnh nhân đái tháo đường nhiễm COVID-19. Đo glucose máu mao mạch 4 lần/ngày vào trước các mũi tiêm insulin (trước ăn sáng - trưa - tối và lúc đi ngủ) và khi nghi ngờ hạ glucose máu.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/976 Đái tháo đường & nhiễm khuẩn huyết 2023-07-01T07:22:52+00:00 Nguyễn Đức Hoàng [email protected] <p>Đái tháo đường (ĐTĐ) và nhiễm trùng huyết (NKH) là những nguyên nhân quan trọng gây bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới, bệnh ĐTĐ gây biến chứng NKH và có tỷ lệ tử vong khá cao. Hệ thống miễn dịch bị rối loạn thường thấy ở cả NKH và ĐTĐ góp phần làm trầm trọng thêm phản ứng ở bệnh nhân ĐTĐ bị NKH. Tác động của ĐTĐ đối với tỷ lệ tử vong do NKH vẫn còn gây tranh cãi. Trong khi một tỷ lệ đáng kể các trường hợp NKH nặng có thể là do kiểm soát đường huyết kém. Việc điều trị thuốc ĐTĐ như: insulin, metformin và thiazolidinedione có thể liên quan đến tỷ lệ mắc và tử vong do NKH giảm thấp. Có ý kiến cho rằng việc tiếp xúc lâu dài với lượng đường cao có thể tăng cường khả năng thích ứng miễn dịch, dẫn đến giảm tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ bị NKH. Mặt khác, nguy cơ tổn thương thận cấp tính cao hơn đã được ghi nhận rõ ở bệnh nhân ĐTĐ và gần đây đã đặt câu hỏi về nguy cơ mắc hội chứng suy hô hấp cấp tính thấp hơn. Các nghiên cứu liên quan đang được tiến hành để xác nhận vai trò bảo vệ của một số phương pháp điều trị ĐTĐ, sự xuất hiện của rối loạn chức năng cơ quan cấp tính và nguy cơ/lợi ích của việc kiểm soát đường huyết không tốt dẫn đến bệnh nhân ĐTĐ sẽ bị NKH.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/977 Quản lý lâu dài bệnh Graves 2023-07-01T07:32:15+00:00 Nguyễn Trọng Nghĩa [email protected] <p>Bệnh Graves (Graves disease: GD) là nguyên nhân phổ biến nhất của cường giáp trên toàn thế giới. Bệnh nhân GD được điều trị bằng bất kỳ phương pháp nào sau đây: thuốc kháng giáp (Antithyroid drugs: ATDs), liệu pháp iod phóng xạ (Radioactive iodine: RAI) hoặc phẫu thuật cắt tuyến giáp. Hầu hết bệnh nhân bắt đầu điều trị bằng ATDs và các hướng dẫn lâm sàng cho thấy thời gian điều trị thích hợp từ 12 đến 18 tháng. Trong khi kiểm soát nhiễm độc giáp bởi điều trị RAI và phẫu thuật bằng cách phá hủy hoặc loại bỏ mô tuyến giáp, ATDs kiểm soát nhiễm độc giáp bằng cách ức chế tổng hợp hormon tuyến giáp và bảo tồn tuyến giáp. Mặc dù ATDs kiểm soát hiệu quả các triệu chứng nhiễm độc giáp, nhưng chúng không điều trị được bệnh nguyên chính của GD; do đó, có thể tái phát thường xuyên. Gần đây, một lượng lớn dữ liệu đã được thu thập về ATDs lâu dài cho GD và methimazole liều thấp (Methimazole: MMZ) được kỳ vọng là một lựa chọn tốt để thuyên giảm bệnh. Đối với quản lý lâu dài GD tái phát, điều quan trọng là làm thuyên giảm bằng cách đánh giá đáp ứng thuốc của bệnh nhân, ngừng ATDs vào thời điểm thích hợp và tích cực chuyển sang phẫu thuật hoặc liệu pháp RAI, nếu được chỉ định. Tiếp tục điều trị bằng thuốc trong một thời gian dài hiện được khuyến khích ở những bệnh nhân có khả năng thuyên giảm cao với MMZ liều thấp. Điều quan trọng nữa là phải chú ý đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Đánh giá tổng quan này nhằm mục đích tóm tắt các phương pháp điều trị thích hợp và thời điểm chuyển tiếp điều trị ở những bệnh nhân tái phát nhiều lần trong khi điều trị GD.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/978 Mối liên quan giữa tuyến giáp - đái tháo đường típ 2 2023-07-01T07:41:56+00:00 Nguyễn Đức Hoàng [email protected] Trần Thừa Nguyên [email protected] <p>Đái tháo đường (ĐTĐ) và bệnh tuyến giáp là do rối loạn chức năng nội tiết gây ra và cả hai đã được chứng minh là có tác động lẫn nhau. Sự thay đổi nồng độ hormone tuyến giáp, ngay cả trong phạm vi bình thường, có thể khởi phát bệnh ĐTĐ týp 2 (T2DM), đặc biệt ở những người mắc bệnh tiền ĐTĐ. Tuy nhiên, bằng chứng vẫn còn trái ngược. Mục đích của tổng quan này là để hiểu mối quan hệ bệnh lý giữa các rối loạn liên quan đến tuyến giáp và T2DM. T2DM trong rối loạn chức năng tuyến giáp được cho là do thay đổi biểu hiện gen của một nhóm gen, cũng như những bất thường về sinh lý dẫn đến giảm hấp thu glucose, tăng hấp thu glucose nội tạng, thải bỏ ở cơ, tăng sản xuất glucose ở gan. Ngoài ra, cả cường giáp và suy giáp đều có thể gây kháng insulin. Kháng insulin có thể phát triển trong bệnh suy giáp cận lâm sàng do giảm tốc độ vận chuyển glucose do insulin kích thích gây ra bởi sự chuyển vị của gen vận chuyển glucose loại 2 (GLUT 2). Mặt khác, các biến thể tên lửa mới trong (Thr92Ala) có thể gây ra tình trạng kháng insulin. Ngoài ra, tình trạng kháng insulin và tăng insulin máu do bệnh ĐTĐ có thể dẫn đến đỉnh điểm là sự biến đổi bướu cổ của tuyến giáp. Các bệnh liên quan đến tuyến giáp và T2DM có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. T2DM có thể trầm trọng hơn do rối loạn tuyến giáp và bệnh ĐTĐ có thể làm trầm trọng thêm rối loạn chức năng tuyến giáp. Kháng insulin đã được phát hiện đóng một vai trò quan trọng trong cả T2DM và rối loạn chức năng tuyến giáp. Do đó, nếu không phát hiện giảm nồng độ hormone tuyến giáp ở bệnh nhân ĐTĐ và tình trạng kháng insulin hoặc cả 2 có thể dẫn đến điều trị bệnh nhân kém hiệu quả.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/979 Chẩn đoán và điều trị bệnh lý tĩnh mạch chi dưới mạn tính 2023-07-01T07:53:05+00:00 Nguyễn Thị Ngọc Thời [email protected] <p>Bệnh lý tĩnh mạch mạn tính (Chronic venous disease – CVD) là những bất thường về hình thái hoặc chức năng kéo dài ảnh hưởng đến hệ thống tĩnh mạch, có triệu chứng cần chẩn đoán và điều trị. Đánh giá ban đầu bao gồm đánh giá độ nặng trên lâm sàng, giải phẩu của dòng trào ngược dựa trên siêu âm doppler tĩnh mạch, đáp ứng với điều trị nội khoa và ảnh hưởng lên chất lượng sống của người bệnh. Hiện nay, các phương pháp can thiệp cắt bỏ tĩnh mạch bao gồm phẫu thuật và xâm lấn tối thiểu được phân loại theo phương pháp phá hủy tĩnh mạch: hóa học, nhiệt hoặc không nhiệt (tức là cơ học, hóa học). Việc lựa chọn can thiệp thích hợp nhất cho suy tĩnh mạch nông phụ thuộc vào kích thước và vị trí của các tĩnh mạch liên quan. Can thiệp nhiệt nội tĩnh mạch đang được xem là lựa chọn đầu tay.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/980 Kinh nghiệm bước đầu trong đốt sóng cao tần điều trị vi ung thư giáp thể nhú tại Vệnh viện Vinmec Đà Nẵng 2023-07-01T08:22:33+00:00 Nguyễn Thanh Nam [email protected] Lê Thị My [email protected] <p>Ung thư tuyến giáp là loại ung thư phổ biến thứ 9 trên thế giới với gần 600.000 ca mắc mới/năm; tại Việt Nam số ca mắc mới khoảng 6000 ca / năm trong đó ung thư giáp thể nhú chiếm khoảng 75-85%, tiến triển chậm, có tiên lượng tốt, tỷ lệ nam/nữ ~1/3.3. Vi ung thư giáp thể nhú là ung thư giáp thể nhú có đường kính lớn nhất &lt; 10mm, tương ứng giai đoạn T1N0M0, chiếm khoảng 20- 42.8% số ca ung thư giáp thể nhú, với tỷ lệ tử vong &lt;1%, tỷ lệ tái phát tại chỗ 2-6%, di căn xa 1-2%. Đốt sóng cao tần (RFA) là một phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu, hiệu quả và an toàn đối với vi ung thư giáp thể nhú [4,5,6,7,8], có thể thực hiện dễ dàng đối với bệnh nhân ngoại trú, là một kỹ thuật thay thế phẫu thuật ở nhóm bệnh nhân không thể phẫu thuật hoặc từ chối phẫu thuật. Báo cáo mô tả kinh nghiệm và kết quả bước đầu ứng dụng đốt sóng cao tần điều trị vi ung thư giáp thể nhú tại Đơn vị Giáp, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/981 Thực trạng đái tháo đường týp 2 ở người dân và đánh giá hiệu quả mô hình quản lý bệnh đái tháo đường theo nguyên lý y học gia đình tại Thành phố Đà Nẵng 2023-07-01T09:17:12+00:00 Nguyễn Khắc Minh [email protected] Đỗ Ích Thành [email protected] Nguyễn Hóa [email protected] Trần Thị Diệp Hà [email protected] Nguyễn Ngọc Ánh [email protected] Trần Anh Quốc [email protected] Đoàn Thị Ngọc Trâm [email protected] Nguyễn Xuân Hương [email protected] <p><strong>Mục tiêu: </strong>xác định tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường type 2 và Đánh giá hiệu quả mô hình quản lý bệnh đái tháo đường theo nguyên lý y học gia đình tại thành phố Đà Nẵng. <strong>Phương pháp: </strong>Sử dụng phương pháp điều tra dịch tễ học mô tả cắt ngang trên 1.788 người dân cho giai đoạn 1 để xác định tỷ lệ mắc bằng máu tĩnh mạch lúc đói và phương pháp can thiệp cộng đồng có nhóm đối chứng cho giai đoạn 2, App ứng dụng và một số biện pháp truyền thống được sử dụng cho hoạt động can thiệp. <strong>Kết quả</strong>: Nghiên cứu dịch tễ học cắt ngang tiến hành trên mẫu năm 2020: Tỷ lệ mắc ĐTĐ týp 2: 7,4% (Bệnh nhân ĐTĐ týp 2 chưa được chẩn đoán trong cộng đồng 55,6%). Mô hình can thiệp quản lý ĐTĐ tại trạm y tế: kiến thức, thực hành đều tăng ở nhóm can thiệp trước và sau so với nhóm chứng; hiệu quả chương trình can thiệp, thay đổi chỉ số trực tiếp ĐTĐ (33,8%) và tiền ĐTĐ (44,19%). <strong>Kết luận và khuyến nghị: </strong>Tỷ lệ đái tháo đường gia tăng nhanh chóng tại tại thành phố Đà Nẵng và mô hình can thiệp quản lý điều trị ĐTĐ theo nguyên lý YHGĐ mang lại hiệu quả cao khi sử dụng App ứng dụng để hỗ trợ quản lý vì vậy Ngành y tế thành phố Đà Nẵng cần có kế hoạch để khống chế tỷ lệ mắc ĐTĐ cũng như có thể ứng dụng mô hình quản lý này tại địa phương.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/982 Đối chiếu viêm giáp trên siêu âm và những biểu hiện cận lâm sàng 2023-07-01T09:36:44+00:00 Nguyễn Thế Thành [email protected] <p><strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát tỷ lệ những biểu hiện cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm giáp trên siêu âm. <strong>Phuơng pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả trên 34 bệnh nhân được chẩn đoán viêm giáp trên được làm xét nghiệm đánh giá chức năng tuyến giáp và xét nghiệm tự miễn trong thời gian từ 2017 đến 2019 tại bệnh viện An-Sinh. <strong>Kết quả: </strong>Bệnh&nbsp;&nbsp; nhân&nbsp;&nbsp; viêm&nbsp;&nbsp; giáp&nbsp;&nbsp; trên siêu âm có những biểu hiện cận lâm sàng như sau:</p> <p>1.Chức năng tuyến giáp</p> <table> <tbody> <tr> <td width="245"> <p>_Bình giáp:</p> </td> <td width="54"> <p>20/34</p> </td> <td width="124"> <p>chiếm tỷ lệ 58,8%</p> </td> </tr> <tr> <td width="245"> <p>_Rối loạn chức năng tuyến giáp:</p> </td> <td width="54"> <p>14/34</p> </td> <td width="124"> <p>chiếm tỷ lệ 41,2% .</p> </td> </tr> <tr> <td width="245"> <p>Về suy giáp :</p> </td> <td width="54"> <p>9/34</p> </td> <td width="124"> <p>chiếm tỷ lệ 26,47%</p> </td> </tr> <tr> <td width="245"> <p>+ Suy giáp dưới lâm sàng:</p> </td> <td width="54"> <p>3/34</p> </td> <td width="124"> <p>chiếm tỷ lệ 8,8%.</p> </td> </tr> <tr> <td width="245"> <p>+ Suy giáp rõ:</p> </td> <td width="54"> <p>6/34</p> </td> <td width="124"> <p>chiếm tỷ lệ 17,6%.</p> </td> </tr> <tr> <td width="245"> <p>Về cường giáp:</p> </td> <td width="54"> <p>5/34</p> </td> <td width="124"> <p>chiếm tỷ lệ 14,7%</p> </td> </tr> </tbody> </table> <table> <tbody> <tr> <td width="198"> <p>+ Cường giáp dưới lâm sàng:</p> </td> <td width="59"> <p>2/34</p> </td> <td width="117"> <p>chiếm tỷ lệ 5,9%.</p> </td> </tr> <tr> <td width="198"> <p>+ Cường giáp rõ:</p> </td> <td width="59"> <p>3/34</p> </td> <td width="117"> <p>chiếm tỷ lệ 8,8%.</p> </td> </tr> <tr> <td width="198">&nbsp;</td> <td width="59">&nbsp;</td> <td width="117">&nbsp;</td> </tr> </tbody> </table> <p>2.Rối loạn xét nghiệm tự miễn:</p> <table> <tbody> <tr> <td width="152"> <p>Anti-TPO (+)</p> </td> <td width="109"> <p>29/34</p> </td> <td width="121"> <p>chiếm tỷ lệ 85,3%</p> </td> </tr> <tr> <td width="152"> <p>Anti-Tg (+)</p> </td> <td width="109"> <p>26/34</p> </td> <td width="121"> <p>chiếm tỷ lệ 76,5%</p> </td> </tr> </tbody> </table> <p><strong>Kết luận: </strong>Siêu âm có giá trị trong chẩn đoán viêm giáp , các xét nghiệm tự miễn giúp xác định viêm giáp Hashimoto mạnh mẽ hơn, chức năng tuyến giáp thường bình giáp hoăc suy giáp, nếu cường giáp nên làm thêm TSI để xác định bản chất bệnh.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/983 Nghiên cứu chất lượng giấc ngủ và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế 2023-07-01T09:58:57+00:00 Tôn Nữ Nam Trân [email protected] Trần Thừa Nguyên [email protected] Lê Văn Chi [email protected] <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Đái tháo đường (ĐTĐ) làm gia tăng tỷ lệ tử vong,&nbsp; giảm chất lượng cuộc sống và mang&nbsp;&nbsp; đến&nbsp;&nbsp; gánh nặng kinh tế cho bản thân người bệnh, cho gia đình và cho xã hội. Bên cạnh những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, đái tháo đường còn tác động đến chất lượng giấc ngủ. <strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện trường Đại học Y - Dược Huế và Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện trường Đại học Y -&nbsp;&nbsp; Dược Huế. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 400 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội, bệnh viện trường ĐH Y Dược Huế từ tháng 6/2020 đến 2/2021. Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân cũng được sử dụng để thu thập các chỉ số cận lâm sàng. <strong>Kết quả: </strong>55,2% bệnh nhân có chất lượng giấc ngủ kém theo thang đo PSQI, điểm số trung bình của toàn bộ đối tượng là 5,64 ± 3,67. Chất lượng giấc ngủ kém có liên quan đến tình trạng kiểm soát HbA<sub>1</sub>c không tốt (OR=1,776; 95%CI: 1,149-2,745), và trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở xuống (OR=1,65; 95%CI: 1,051-2,577) với p &lt;0,05 trong mô hình hồi quy đa biến. <strong>Kết luận: </strong>bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có tỷ lệ rối loạn giấc ngủ cao, việc kiểm soát các hành vi lối sống, tuân thủ điều trị có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu khả năng giảm chất lượng giấc ngủ.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/984 Đặc điểm huyết áp 24 giờ, tỉ lệ mất khoảng trũng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 có tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương 2023-07-01T10:22:58+00:00 Phan Hướng Dương [email protected] Nguyễn Thu Hiền [email protected] Phạm Thị Hoa [email protected] <p>Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những yếu tố nguy cơ của mất trũng huyết áp (HA); ngược lại, mất khoảng trũng lại làm gia tăng nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ. Tại Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu nào khảo sát về đặc điểm HA 24 giờ ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2, cũng như tỉ lệ bệnh nhân ĐTĐ typ 2 mất trũng HA là bao nhiêu. Do đó, nghiên cứu được tiến hành nhằm mục tiêu: Xác định đặc điểm huyết áp 24 giờ, tỉ lệ mất khoảng trũng huyết áp ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có tăng huyết áp (THA) điều trị tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Qua nghiên cứu trên 197 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có THA điều trị tại khoa Điều trị Ban ngày Bệnh viện Nội tiết Trung ương, chúng tôi rút ra một số kết quả: HATB 24 giờ của ĐTNC là 101,3 ± 11,2 mmHg, nhịp tim TB 24 giờ 72,2 ± 7,9 ck/p. % trũng HATT và HATTr lần lượt là 14,4 ± 6,2 và 17,1 ± 7,3 %. Tỉ lệ bệnh nhân mất trũng HA là 31,47%, trong đó đa phần mất trũng HATT. Chỉ có 7/62 bệnh nhân (11,29%) mất cả trũng HATT và HATTr. Có 5,58% bệnh nhân trũng HA sâu. Các chỉ số HATB, HATT và HATTr ban đêm cũng như % trũng HATT, % trũng HATTr khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm không mất trũng và mất trũng. Không tìm thấy sự khác biệt về nhịp tim cũng như các thông số HA 24 giờ, HA ban ngày</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/985 Tỉ lệ mắc tiền đái tháo đường hoặc đái tháo đường typ 2 tại thời điểm 12 tuần sau sinh ở bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ được điều trị tại khoa điều trị ban ngày - Bệnh viện Nội tiết Trung Ương 2023-07-01T10:46:35+00:00 Phan Hướng Dương [email protected] Nguyễn Thu Hiền [email protected] Phạm Thị Hoa [email protected] <p>Theo khuyến cáo, tất cả những bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐ TK) cần được sàng lọc đái tháo đường tại thời điểm 4 – 12 tuần sau sinh bằng nghiệm pháp dung nạp glucose. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện chưa có một nghiên cứu nào theo dõi về tình trạng rối loạn glucose máu tại thời điểm 12 tuần sau sinh ở những bệnh nhân đã được chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ trước đó. Do đó, nghiên cứu được tiến hành nhằm mục tiêu xác định tỉ lệ mắc tiền ĐTĐ hoặc ĐTĐ typ 2 tại thời điểm 12 tuần sau sinh ở những BN ĐTĐ TK đã được điều trị tại khoa Điều trị Ban ngày - Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Qua nghiên cứu ở 159 BN ĐTĐ TK được điều trị tại khoa Điều trị Ban ngày - Bệnh viện Nội tiết Trung ương, chúng tôi rút ra một số kết luận: Tỉ lệ rối loạn glucose máu sau sinh 12 tuần ở những BN ĐTĐ TK là 35,85%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (4,35%, p&lt; ,001). Trong đó, 30,82% BN mắc tiền ĐTĐ, 5,03% BN mắc ĐTĐ typ 2.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/986 Khảo sát biến chứng mắt ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 mới phát hiện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ 2023-07-01T11:01:45+00:00 Dương Thị Kim Ngân [email protected] Lê Thị Phương Dung [email protected] Đỗ Trung Quân [email protected] <p>Nghiên cứu nhằm khảo sát biến chứng mắt ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 mới phát hiện tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ. Nghiên cứu thực hiện trên 92 bệnh nhân mới được phát hiện ĐTĐ type 2 được chẩn đoán theo tiêu chuẩn Hội Nội tiết- Đái tháo đường Việt Nam năm 2020 tại Khoa nội tiết - Đái tháo đường bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ từ tháng 08 năm 2020 đến tháng 06 năm 2021. Kết quả cho thấy tỷ lệ biến chứng mắt ở bệnh nhân Đái tháo đường mới phát hiện là 70,65%. Trong đó, giảm thị lực chiếm 60,87%, đục thủy tinh thể 59,78%, bệnh VMĐTĐ là 21,74%, tỷ lệ VMĐTĐ thể không tăng sinh 1,09%, tỷ lệ VMĐTĐ tiền tăng sinh chiếm 20,65%, không có bệnh nhân nào mắc bệnh VMĐTĐ tăng sinh. Hiện tại chưa phát hiện bệnh nhân bị Glocoma và phù hoàng điểm. Cần triển khai thêm các xét nghiệm, kỹ thuật để đánh giá biến chứng mắt phát hiện sớm và điều trị các biến chứng, đặc biệt là bệnh võng mạc đái tháo đường.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/987 Mối tương quan giữa nồng độ Cystatin C máu và một số chỉ số cận lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 2023-07-01T11:15:12+00:00 Dương Thị Kim Ngân [email protected] Đỗ Trung Quân [email protected] <p>Nghiên cứu nhằm phân tích mối tương quan giữa Cystatin C máu và một số chỉ số cận lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Qua 132 người bệnh được chẩn đoán ĐTĐ týp 2 đến khám tại khoa khám bệnh yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 8 năm 2016. Kết quả cho thấy có mối tương quan thuận mức độ chặt chẽ giữa nồng độ cystatin C với creatinin huyết tương với r=0,49; tương quan nghịch giữa chỉ số LDL-c, mức lọc cầu thận và nồng độ cystatin C với r=-0,33; r=-0,31; mối tương quan có ý nghĩa thống kê với p&lt;0,05. Chưa thấy có mối tương quan giữa Cholesterol toàn phần; Triglycerid; HDL-C, với p&gt;0,05. Cystatin C huyết tương có thể phản ánh được sự tăng lên của creatinin và Cystatin C là yếu tố nguy cơ độc lập dự đoán giảm mức lọc cầu thận.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/988 Nghiên cứu biến thiên nhịp tim ở bệnh nhân tăng huyết áp bằng Holter điện tim 24 giờ 2023-07-01T11:36:51+00:00 Nguyễn Tấn Quân [email protected] Hoàng Anh Tiến [email protected] Hồ Anh Bình [email protected] <p>Tăng huyết áp cũng là một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng rối loạn nhịp tim, trong đó có các rối loạn nhịp thật sự nguy hiểm đến tính mạng, đe dọa đời sống của bệnh nhân [3]. Ngoài việc Holter điện tim cho biết các kiểu rối loạn nhịp, mức độ xảy ra, chính xác thời gian xảy ra ngày hay đêm…, thì Holter điện tim giúp biết được gián tiếp cơ chế gây rối loạn nhịp qua ảnh hưởng của hệ thần kinh tự chủ. Biến thiên nhịp tim với hai phương pháp phân tích theo thời gian và theo phổ tần số qua theo dõi Holter điện tim liên tục, đã giúp đánh giá tiên lượng bệnh ở bệnh nhân tim mạch. <strong>Đối tượng nghiên cứu: </strong>Bệnh nhân được chẩn đoán THA theo hội Tim mạch Việt Nam 2008 [2]. <strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>mô tả cắt ngang. <strong>Kết quả: </strong>- Tỷ lệ phân độ THA ở cả 3 độ tương đương nhau lần lượt theo độ 1,2,3 là: 35,42%; 32,33%; 32,25%. - Các chỉ số HRV ở bệnh nhân THA trong nghiên cứu của chúng tôi lần lượt là: SDNN: 81,51; ASDNN: 41,32; SDANN : 72,90; RMSSD: 30,03 so với các chỉ số biến thiên nhịp tim ở người khỏe mạnh lần lượt là: 122,89; 55,69; 110,26; 37,5 với p&lt; 0,001. - Nhóm tăng huyết áp mức độ 3 có tỷ lệ tổn thương đáy mắt cao nhất là 30 %, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p &gt; 0,05. - Nhóm bệnh nhân có tổn thương thận có ASDNN thấp hơn ở nhóm không có tổn thương thận (p = 0,027). <strong>Kết luận: </strong>Holter điện tim liên tục giúp phát hiện, theo dõi các rối loạn nhịp, biến thiên nhịp tim ở BN tăng huyết áp.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/989 Khảo sát một số yếu tố nguy cơ tim mạch trên bệnh nhân suy thận mạn ðang lọc máu chu kỳ 2023-07-01T13:04:44+00:00 Hồ Anh Bình [email protected] Hoàng Hải Bình [email protected] Hoàng Vĩnh Phú [email protected] Nguyễn Đặng Duy Quang [email protected] Bùi Quang Tiến [email protected] <p><strong>Tổng quan: </strong>Suy thận mạn giai đoạn cuối là một bệnh lý có nhiều rối loạn nghiêm trọng và có tỷ lệ tử vong còn cao. Trong đó, các yếu tố nguy cơ tim mạch xuất hiện rất phổ biến với tỷ lệ mắc bệnh cao huyết áp, rối loạn lipid máu và tăng đường huyết cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân này. Các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch xuất hiện trên bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ làm ảnh hưởng đến tiên lượng cũng như điều trị ở những bệnh nhân này. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ tim mạch ở những bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối, tuy nhiên, ở nước ta vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>mô tả cắt ngang thực hiện trên 85 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối đang được lọc máu chu kỳ. Bệnh nhân được xác định tuổi, giới, di truyền, thời gian lọc máu, lượng nước tiểu trung bình, chỉ số Kt/V, huyết áp. Xét nghiệm bilan lipid, đường máu đói tĩnh mạch. Phân tích mô tả, so sánh trung bình được thực hiện. <strong>Kết quả: </strong>Bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ có thời gian lọc máu trung bình chung: 54.92 ± 38.84 tháng; lượng nước tiểu trung bình: 234.59 ± 390.858 ml/24giờ; phần lớn trường hợp lọc máu có chỉ số Kt/V ≥ 1.2 chiếm tỷ lệ 75.3%. Yếu tố nguy cơ tim mạch di truyền 23,53%; huyết áp 72,90 %; tăng cholesterol 9,41%; tăng triglycerid 34,1%; giảm HDL-C 47,1%; tăng đường máu 12,94%. <strong>Kết luận: </strong>Yếu tố di truyền, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu tăng triglycerid, giảm HDL-C là các yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối đang lọc máu chu kỳ.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/990 Rối loạn lipid máu trên đối tượng tiền đái tháo đường mới phát hiện 2023-07-01T13:17:17+00:00 Lê Viết Hùng [email protected] Nguyễn Hải Thủy [email protected] Trần Hữu Dàng [email protected] Nguyễn Hải Ngọc Minh [email protected] Nguyễn Thị Trà My [email protected] <p>Đái tháo đường típ 2 (ĐTĐ típ 2) là một tình trạng bệnh lý liên quan đến rối loạn chuyển hoá có tính xã hội, được xếp là một trong những bệnh lý không lây nhiễm phổ biến nhất toàn cầu hiện nay. Tuy nhiên ngay từ khi phát hiện Đái tháo đường nhất là Đái tháo đường típ 2 đã có 50% đã có biến chứng tim mạch có nghĩa là biến chứng này đã xảy ra trước khi xác định Đái tháo đường mà giới khoa học trong những năm lại đây xếp vào giai đoạn Tiền đái tháo đường (tiền ĐTĐ) bao gồm Rối loạn glucose máu đói (RLGMĐ) và/hoặc là Rối Loạn Dung nạp Glucose (RLDNG). Tại Việt Nam tỷ lệ Tiền đái tháo đường theo số liệu của IDF năm 2019 số đối tượng mắc Tiền đái tháo đường là 5,3 triệu dự kiến năm 2045 số người mắc Tiền đái tháo đường là 7,9 triệu. Tỉnh Quảng Bình nằm ở Bắc Trung Bộ, Việt Nam, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, tình hình bệnh tim mạch và chuyển hóa có khuynh hướng tăng. Khái niệm và nhận thức Tiền đái tháo đường còn rất xa lạ đối với mỗi người, trong khi tỷ lệ mắc và tác hại của nó thì ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và tính mạng của người dân. Với mong muốn phát hiện sớm số đối tượng mắc Tiền đái tháo đường và một yếu tố liên quan trên đối tượng Tiền đái tháo đường đặc thù cho cộng đồng dân cư tỉnh Quảng Bình chúng tôi thực hiện đề tài. <strong>Mục tiêu: </strong>1. Xác định tỷ lệ tiền đái tháo đường mới phát hiện trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; 2.Đánh giá một số yếu tố nguy cơ trên đối tượng Tiền đái tháo đường mới phát hiện; 3.Thăm dò một số biến chứng chuyển hoá và tim mạch trên bệnh nhân Tiền đái tháo đường mới phát hiện. <strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>cắt ngang, mô tả<strong>, </strong>phân giai đoạn nghiên cứu nhóm người lớn từ 20-60 tuổi chưa được phát hiện ĐTĐ/ TĐTĐ trước đó đang sinh sống tại tỉnh Quảng Bình. TĐTĐ được xác định theo tiêu chuẩn BYT 2020 và ADA 2021.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/991 Chỉ số nhân trắc trên đối tượng Tiền đái đường mới phát hiện ở tỉnh Quảng Bình 2023-07-01T14:10:16+00:00 Lê Viết Hùng [email protected] Nguyễn Hải Ngọc Minh [email protected] Nguyễn Hải Thủy [email protected] Trần Hữu Dàng [email protected] Nguyễn Thị Trà My [email protected] <p>Tiền đái tháo đường (TĐTĐ) là một thuật ngữ mô tả tình trạng một người có mức đường máu tăng cao hơn người bình thường nhưng chưa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) thực thụ. Trên lâm sàng béo phì được đánh giá qua các chỉ số nhân trắc như BMI, đo vòng bụng (VB), tỷ lệ mỡ cơ thể (MCT) và mỡ nội tạng (MNT). <strong>Mục tiêu: </strong>1. Xác định tỷ lệ tiền đái tháo đường mới phát hiện trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; 2. Đánh giá các chỉ số nhân trắc học trên đối tượng tiền đái tháo đường mới phát hiện. <strong>Đối tượng nghiên cứu: </strong>1206 đối tượng nghiên cứu từ 20-60 tuổi chưa được phát hiện ĐTĐ /TĐTĐ trước đó đang sinh sống tại tỉnh Quảng Bình. <strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>cắt ngang, mô tả. <strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ tiền đái tháo đường có BMI thừa cân – béo phì (BMI ≥ 23) là 47,6% cao hơn so với nhóm có BMI bình thường. Tỷ lệ hiện mắc TĐTĐ trong quần thể nghiên cứu chung 1206 người, nhóm BMI ≥ 23 cao hơn nhóm BMI &lt; 23 (37,85% so với 24,77 %, p &lt; 0,05). Tỷ lệ TĐTĐ ở nhóm có tỷ lệ MCT cao là 58,5% cao. Có sự tương quan glucose máu đói (Go) và tỷ lệ MCT, (r=0,115 ; p&lt; 0,05). Tương quan giữa HbA1c với vòng bụng ( r=0,101; p &lt; 0,05) và BFP (r=0,116; p &lt; 0,05). <strong>Kết luận</strong>: Ngoài chỉ số nhân trắc BMI, tỷ lệ mỡ cơ thể (BFP) được xem là yếu tố nguy cơ đến TĐTĐ.</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal/article/view/992 Tỷ lệ suy dinh dưỡng và tần suất tiêu thụ thực phẩm ở người cao tuổi dân tộc Khmer tại Huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh 2023-07-01T14:20:22+00:00 Nguyễn Thị Nhật Tảo [email protected] Nguyễn Sơn Điền [email protected] Ca Mỹ Phượng [email protected] Huỳnh Thị Xuân Linh [email protected] Lê Mỹ Ngọc [email protected] Phạm Thị Lan Anh [email protected] <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng và tần suất tiêu thụ thực phẩm ở người cao tuổi dân tộc Khmer tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Nghiên cứu điều tra cắt ngang 614 đối tượng, thực hiện từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2020. Kết quả cho thấy, tỷ lệ suy dinh dưỡng phân loại theo MNA là 23,9% và theo BMI là 27,5%; đối tượng có nguy cơ suy dinh dưỡng chiếm tỷ lệ rất cao là 62,1%. Nhóm thực phẩm có tần suất tiêu thụ cao nhất là nhóm Thịt, cá, trứng, đậu hũ, đậu đỗ. Bên cạnh đó, nghiên cứu ghi nhận được mối liên quan giữa tỷ lệ suy dinh dưỡng với tần suất tiêu thụ thực phẩm của đối tượng nghiên cứu (p&lt;0,05).</p> 2023-07-01T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2023 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology