Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal <p>Tạp chí Nội tiết- Đái tháo đường Việt Nam đã được ra đời theo quyết định số 1740/GP-BTTT ngày 18 tháng 11 năm 2010, do Thứ trưởng Bộ Thông tin- Truyền thông Đỗ Quý Doãn ký. Tạp chí được Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học- Công nghệ cấp Mã số chuẩn quốc tế ISSN 1859 – 4727 theo Quyết định số 18/TTKHCN – ISSN, do Cục trưởng Tạ Bá Hưng ký ngày 11/4/2012. Tạp chí đã được Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước tính điểm công trình: 0- 0,5.</p> <p>Tạp chí là nơi đăng tải tất cả các thông tin, hoạt động khoa học cập nhật của chuyên ngành Nội tiết, ĐTĐ, Rối loạn chuyển hóa trong cả nước và thế giới.</p> <p>Hàng năm, Tạp chí xuất bản 06- 08 số, trong đó có 01- 02 số bằng tiếng Anh đạt chất lượng và có uy tín trên toàn quốc. Các bài báo có đầy đủ phản biện theo đúng qui định của Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước và Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Y.</p> <p>Tạp chí cũng được công bố online tất cả các số tại địa chỉ: <a href="http://vjde.vn/">http://vjde.vn/</a></p> Hội Nội tiết & Đái tháo đường Việt Nam vi-VN Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 1859-4727 Cập nhật khuyến cáo Hội Nội tiết Châu Âu (2021) “ Kiểu hình Nội tiết" của Covid-19 https://vjde.vn/journal/article/view/319 <p>Bối cảnh COVID-19 đã thay đổi hoàn toàn việc thực hành lâm sàng hàng ngày của chúng ta. Nhiều cơ quan và hệ thống sinh học của cơ thể liên quan đến sự lây nhiễm của SARS- CoV-2, hoặc do tổn thương trực tiếp do virus gây ra hoặc do các tác động gián tiếp có thể gây ra hậu quả hệ thống toàn thân. Hệ thống nội tiết đã không ngoại lệ mà còn tham gia của vào COVID-19 đã hình thành một <strong>“Kiểu hình nội tiết của COVID-19” </strong>dần dần có được sự liên quan về mặt lâm sàng. Hiệp hội Nội tiết Châu Âu (ESE) cập nhật khuyến cáo đến các thành viên và toàn thể cộng đồng nội tiết về kiểu hình nội tiết mới của COVID-19 và ý nghĩa của nó đối với việc phòng ngừa và quản lý bệnh nội tiết trong đó Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) có vai trò chính trong kiểu hình này vì nó là một trong những bệnh đi kèm thường xuyên nhất liên quan đến mức độ nghiêm trọng và tỷ lệ tử vong của bệnh nhân nhiểm COVID-19. Việc quản lý cần thận trọng bao gồm cả việc điều chỉnh phương pháp điều trị để bảo vệ bệnh nhân Nội tiết và ĐTĐ đã biết tránh được những hậu quả nguy hiểm nhất của COVID-19 hoặc nhập viện với nhiểm COVID-19, mà còn ở bệnh nhân ĐTĐ mới khởi phát do SARS-CoV-2 Bên cạnh đó Béo phì lại làm gia tăng tính nhạy cảm với SARS- CoV-2 và nguy cơ đối với kết quả bất lợi COVID-19. Cần quản lý dinh dưỡng đầy đủ cho bệnh nhân béo phì hoặc suy dinh dưỡng để hạn chế sự gia tăng tính nhạy cảm và mức độ nghiêm trọng của nhiễm COVID-19. Ngoài ra sự thiếu hụt vitamin D, hạ calci huyết thanh và gãy xương đốt sống cũng là những phát hiện thường xuyên ở nhóm bệnh nhân COVID-19 nhập viện và có thể tác động đến kết cục lâm sàng xấu trên những bệnh nhân này. Ngoài ra, ở những bệnh nhân suy tuyến thượng thận có thể cần điều chỉnh nhanh các liều glucocorticoid. Hơn nữa, trong cập nhật khuyến cáo này, vai trò của hormone sinh dục cũng như tuyến yên đặc biệt và các khía cạnh tuyến giáp của COVID-19 cũng đã được đề cập. Cuối cùng, trong quan điểm của việc tiêm phòng Vaccine phòng COVID với các tác động tiềm ẩn đối với bệnh nhân ĐTĐ và nội tiết cần được xem xét.</p> Nguyễn Hải Thủy Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-03-10 2022-03-10 51 2 18 10.47122/vjde.2022.51.1 Covid - 19 và Đái tháo đường: Từ cơ chế sinh lý bệnh đến điều trị lâm sàng https://vjde.vn/journal/article/view/320 <p>Nhiều nghiên cứu cho thấy sự gia tăng mức độ nặng của nhiễm covid - 19 ở bệnh nhân đái tháo đường (BN ĐTĐ) bởi sự xuất hiện hội chứng nhiễm trùng hô hấp cấp tính nặng do coronavirut 2 gây ra (SARS-CoV-2). Covid-19 có thể gia tăng nguy cơ nhiễm ở đối tượng tăng glucose máu. Khi tương tác với các yếu tố nguy cơ khác thì tăng glucose có thể gây biến đổi đáp ứng miễn dịch và viêm, điều này có thể làm cho tình trạng nhiễm trùng nặng hơn thậm chí gây tử vong. Enzym ức chế chuyển dạng angiotensin 2 (ACE2) thuộc hệ thống renin- angiotensin - aldosteron system (RAAS) là thụ thể chính giúp virut xâm nhập vào các cơ quan và tổ chức mặc dù dipeptidyl peptidase 4 (DPP4) có thể tương tác với cơ quan đích mang virut. Những dữ liệu nghiên cứu ban đầu cho thấy không có giả thuyết nào được chấp nhận nêu tác dụng đáng kể của ức chế DPP4 đối với SARS-CoV-2. Với đặc điểm về dược lý thì thuốc ức chế vận chuyển glucose phụ thuộc kênh Na<sup>+</sup>2 (SGLT2) có thể gây ra một số tác dụng không mong muốn ở BN covid - 19 vì vậy hạn chế được sử dụng trong một số trường hợp. Hiện nay, insulin vẫn là sự lựa chọn chủ yếu để kiểm soát tăng glucose giai đoạn cấp tính của bệnh. Đa số bằng chứng cho thấy mối liên quan của covid - 19 với ĐTĐ không có sự khác biệt giữa các típ, mặc dù trong lâm sàng thì ĐTĐT2 có tỷ lệ mắc cao hơn. Đối với ĐTĐT1 hiện có rất ít bằng chứng nghiên cứu về mối liên quan với covid - 19. Đa số các nghiên cứu hiện tại và có thể trong tương lai cũng đều nhấn mạnh việc kiểm soát tối ưu glucose ở BN ĐTĐ là điều cần thiết nhất.</p> Hoàng Trung Vinh Phạm Thị Hồng Hoa Trần Quốc Luận Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-03-10 2022-03-10 51 19 27 10.47122/vjde.2022.51.2 Vaccin phòng covid-19 cho người bệnh đái tháo đường và rối loạn nội tiết https://vjde.vn/journal/article/view/322 <p>Bệnh Coronavirus 2019 (COVID-19) đã thay đổi hoàn toàn hoạt động lâm sàng hàng ngày cũng như các mối quan hệ xã hộ. Nhiều cơ quan và hệ thống sinh học có liên quan đến nhiễm trùng coronavirus 2 (SARS-Cov-2) hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng và hệ thống nội tiết không chỉ là một ngoại lệ. Tiêm phòng là một trong những cách hiệu quả nhất để bảo vệ bệnh nhân chống lại COVID-19. Bằng chứng chỉ ra rằng vắc xin rất hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh nặng, nhập viện và tử vong do COVID-19. Kể từ đợt bùng phát COVID-19 đầu tiên, những nỗ lực không ngừng đã được thực hiện để tìm ra một loại vắc-xin hiệu quả chống lại COVID-19 để chống lại đại dịch. Quá trình lâm sàng của COVID-19 và tác dụng của việc tiêm vắc xin chống lại COVID-19 đều bị ảnh hưởng bởi tình trạng sức khỏe của bệnh nhân và liên quan đến phản ứng sinh lý toàn thân. Theo quan điểm của chức năng hệ thống của các hormone nội tiết, bản thân các rối loạn nội tiết và các liệu pháp được sử dụng để điều trị chúng có thể ảnh hưởng đến kết quả của việc chủng ngừa COVID-19. Tuy nhiên, có rất ít dữ liệu để hỗ trợ việc phát triển các hướng dẫn lâm sàng cho bệnh nhân có nền tảng y tế cụ thể dựa trên các thử nghiệm lâm sàng lớn. Trong hoàn cảnh nghiêm trọng hiện nay của đại dịch COVID-19, các tuyên bố về vị trí của các chuyên gia lâm sàng là cần thiết để đưa ra các khuyến nghị thích hợp dựa trên cả bằng chứng y tế và kinh nghiệm lâm sàng. Với tư cách là bác sĩ nội tiết, chúng tôi muốn trình bày cơ sở y tế về tiêm chủng COVID-19, cũng như các biện pháp phòng ngừa để ngăn ngừa các tác dụng phụ của tiêm chủng COVID-19 ở bệnh nhân đái tháo đường và nội tiết bao gồm bệnh tuyến giáp tự miễn, loãng xương, suy tuyến thượng thận, suy sinh dục và bệnh lý tuyến yên. Chúng ta nên biết về mức độ ưu tiên và lợi ích của vắc xin COVID-19 đối với bệnh nhân Đái tháo đường và Nội tiết và khuyến cáo nên tiêm chủng ngay cho bệnh nhân.</p> Nguyễn Hải Thủy Trần Bá Thoại Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-03-10 2022-03-10 51 28 36 10.47122/vjde.2022.51.3 Đái tháo đường gia tăng nhiễm bệnh, mức độ nặng và tử vong ở bệnh nhân mắc Covid-19 https://vjde.vn/journal/article/view/323 <p><strong><em>Dẫn nhập: </em></strong>Đái tháo đường (ĐTĐ) liên quan đến gia tăng tử vong khi bệnh nhân nhiễm covid-19 nhưng mối liên quan giữa những yếu tố nguy cơ (YTNC) có thể thay đổi được bao gồm tăng glucose và béo phì với tử vong do covid-19 ở bệnh nhân (BN) ĐTĐ vẫn còn chưa hoàn toàn sáng tỏ. Bài báo sẽ phân tích mối liên quan giữa YTNC và tử vong do covid-19 ở BN ĐTĐ. <strong><em>Phương pháp: </em></strong>Số liệu được công bố rút ra từ các bài báo trên mạng dựa vào từ khóa: covid-19; SARS-CoV2, ĐTĐ trên y văn tính đến tháng 4 năm 2020 kể từ khi dịch khởi phát. <strong><em>Kết quả: </em></strong>Có bằng chứng cho thấy sự gia tăng tần suất mắt và độ nặng của BN ĐTĐ nhiễm covid-19. Covid-19 có tác động đối với cơ chế sinh lý bệnh của ĐTĐ. Kiểm soát glucose là quan trọng song không phải là duy nhất ở BN nhiễm covid-19. Sử dụng hình thức y tế trực tuyến trong điều trị BN ĐTĐ nhiễm covid-19 giai đoạn này là rất cần thiết, nên được áp dụng. <strong><em>Kết luận</em></strong><em>: </em>Covid- 19 với ĐTĐ có kết cục xấu hơn so với đối tượng không mắc ĐTĐ. Tuổi cao và bệnh mạn tính phối hợp là YTNC dẫn đến nặng bệnh, tử vong tại Bệnh viện ở BN ĐTĐ.</p> Hoàng Trung Vinh Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-03-10 2022-03-10 51 37 47 10.47122/vjde.2022.51.4 Tiếp cận chẩn đoán rối loạn phát triển giới tính ở trẻ em https://vjde.vn/journal/article/view/324 <p>Trẻ sinh ra “ không rõ là nam hay nữ “ là luôn là một vấn đề rất khó khăn trong chẩn đoán và tổn thương tâm lý đối với gia đình. Việc tiếp cận chẩn đoán cần phải có sự can thiệp của một nhóm đa chuyên khoa hợp tác với gia đình, và trong số đó, bác sĩ nhi khoa có vai trò quan trọng khi khám đánh giá trẻ từ ban đầu. Đó có thể là một cấp cứu sơ sinh cần điều trị sớm ngay giai đoạn sơ sinh (trong trường hợp tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh - CAH) trước khi cần có chẩn đoán giới tính và nguyên nhân. Từ năm 2005, phân loại mới các rối loạn phát triển giới tính (DSD) đã được đông thuận công bố (Chicago). Sự đồng thuận này đề xuất để phân loại các rối loạn phát triển giới tính theo karyotype, SRY và loại bỏ các thuật ngữ được coi là ‘miệt thị “, thường được sử dụng, như "mơ hồ giới tính", "đảo ngược giới tính ", "lưỡng giới giả". Thuật ngữ duy nhất đã được đề xuất và chấp nhận là DSD (Rối loạn phát triển giới tính). Sự lựa chọn giới tính của cá nhân (có thể khác với giới tính di truyền) phụ thuộc vào dữ kiện hiện tại và các dữ liệu hormone về sau (dậy thì và khả năng sinh sản). Đó là kết quả của một quyết định đa chuyên ngành (di truyền, bác sĩ Nội tiết Nhi khoa, bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ Nhi khoa) và gia đình.</p> Hoàng Thị Thủy Yên Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-03-10 2022-03-10 51 48 53 10.47122/vjde.2022.51.5 Một số biến đổi về chuyển hóa lipid ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 https://vjde.vn/journal/article/view/325 <p>Rối loạn lipid ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 liên quan đến kháng insulin. Kháng insulin làm giảm hiệu quả của enzym LPL dẫn đến giảm ức chế giải phóng acid béo từ mô mỡ sau ăn, tăng dòng acid béo tự do tới gan để sản xuất quá nhiều VLDL gây tăng triglycerid. Thiếu hoạt động của enzym LPL cũng làm giảm thanh thải VLDL, giảm thành phần bề mặt của VLDL, tức là giảm nguyên liệu để tổng hợp HDL. Mặt khác, tăng triglycerid vận chuyển tới HDL, làm tăng dị hóa HDL. Giảm tổng hợp và tăng dị hóa HDL là nguyên nhân của giảm nồng độ HDL. Giảm nồng độ HDL và tăng nồng độ triglycerid là hai đặc điểm chính của rối loạn chuyển hoá lipid ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 Khi kiểm soát glucose máu tốt, các rối loạn lipid có giảm nhưng không trở về bình thường.</p> Nguyễn Kim Lương Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-03-10 2022-03-10 51 54 57 10.47122/vjde.2022.51.6 Ung thư tuyến giáp phối hợp đồng thời với cường giáp https://vjde.vn/journal/article/view/326 <p>Một số thông báo cho thấy ung thư tuyến giáp (KTG) gặp với tỷ lệ từ 0,76% đến 8,7% trong các loại bướu tuyến giáp (TG) khác nhau đã được điều trị cường giáp (CG). Mặc dù đã có những thông báo về sự phối hợp ở tỷ lệ cao KTG với CG song cũng có những nghiên cứu trước đây lại nhấn mạnh về sự ít tương thích của hai bệnh này. Có nhiều tranh luận, bàn cãi xung quanh diễn biến KTG phối hợp đồng thời với CG. Belfiore và Ozaki đã nêu: Khi KTG phối hợp với bệnh Grave sẽ có diễn biến theo kiểu tương hỗ, tấn công nhau. Một số tác giả khác lại có quan điểm trái ngược cho rằng sự phối hợp 2 bệnh trên không có đặc tính tương hỗ, tấn công nhau. Sự phối hợp của 2 bệnh có thể liên quan đến yếu tố địa lý, chủng tộc và một số yếu tố khác chưa xác định rõ. Để có khái niệm rõ hơn về sự phối hợp của KTG với CG, chúng tôi xin cung cấp những dữ liệu của bệnh nhân (BN) phối hợp đồng thời KTG và CG trên các khía cạnh như biểu hiện lâm sàng, điều trị, kết cục và yếu tố tiên lượng di căn của bệnh.</p> Hoàng Trung Vinh Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-03-10 2022-03-10 51 58 63 10.47122/vjde.2022.51.7 Sử dụng thuốc hạ đường huyết điều trị bệnh đái tháo đường típ 2 tại Trung tâm Y tế Thị xã Long Mỹ năm 2020 https://vjde.vn/journal/article/view/327 <p>Bệnh đái tháo đường đã trở thành dịch trong những năm gần đây. Kiểm soát đường huyết tốt nhằm giảm các biến chứng nguy hiểm. <strong><em>Mục tiêu</em></strong><em>: </em>Đánh giá kết quả điều trị các loại thuốc kiểm soát đường huyết bệnh đái tháo đường típ 2 tại Trung tâm Y tế thị xã Long Mỹ. <strong><em>Đối tượng và phương pháp</em></strong><em>: </em>Phương pháp mô tả, cắt ngang. 145 người bệnh được chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2 tại khoa Nội - Trung tâm Y tế thị xã Long Mỹ từ tháng 1-11/2020.Tiêu chuẩn chẩn đoán, phân típ ĐTĐ theo ADA. <strong><em>Kết quả</em></strong><em>: </em>Nam giới có 42,76% và tuổi TB là 65,82 ± 1,74 (41-91); nữ chiếm 57,24%, tuổi TB 67,83 ± 1,97 (42-90). Thời gian mắc bệnh TB là 3,93 ± 3,09. Nồng độ Glucose TB lúc vào viện 18,48 ± 5,74 mmol/l (lúc ra viện là 8,63 ± 2,38), với t144 = 21,92; p &lt; 0,05 (CI 95% là 8,96 đến 10,74). Tỷ lệ thuốc Sulfonylurea được sử dụng đơn trị liệu là 28,3%; nhóm biguanid (metformin) là 26,9%; Metformin + nhóm Sulfonylurea là 12,4%. Insulin đơn thuần 11,7%. Insulin + nhóm biguanid (metformin) là 14,5%. Insulin + nhóm Sulfonylurea là 4,8%. Insulin + nhóm biguanid + nhóm Sulfonylurea là 1,4%. Kết quả nồng độ glucose máu trước và sau điều trị: mức độ tốt: 0,7%-52,4%; mức chấp nhận là 6,2% - 27,6%. Mức không chấp nhận: 93,1% - 20,0%. Tuổi và nghề nghiệp có liên quan với kết quả điều trị. <strong><em>Kết luận</em></strong><em>: </em>Điều trị kết hợp góp phần tăng tỷ lệ kiểm soát đường huyết.</p> Trần Văn Lam Nguyễn Thanh Trí Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-03-10 2022-03-10 51 64 69 10.47122/vjde.2022.51.8 Thực trạng bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp ở người trưởng thành tại tỉnh Thái Nguyên năm 2020 https://vjde.vn/journal/article/view/328 <p><strong><em>Đặt vấn đề: </em></strong>Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) và tăng huyết áp (THA) là bệnh không lây nhiễm được thế giới và Việt Nam quan tâm hàng đầu trong chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Nhằm xác định thực trạng của tình hình bệnh ĐTĐ và tăng THA trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường tại tỉnh Thái Nguyên năm 2020”. <strong><em>Mục tiêu</em></strong><em>: </em>1. Mô tả thực trạng bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp ở người trưởng thành tại tỉnh Thái Nguyên năm 2020; 2. Xác định một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp ở tuổi trưởng thành tại tỉnh Thái Nguyên năm 2020. <strong><em>Kết quả: </em></strong>Bằng phương pháp mô tả cắt ngang trên 1500 người dân ở độ tuổi trưởng thành tại tỉnh Thái Nguyên trong năm 2020 nghiên cứu thu được kết quả như sau: - Thực trạng bệnh đái tháo đường: 79 người mắc tiền ĐTĐ (5,3%), 144 người mắc ĐTĐ (9,6%). Tỷ lệ mắc ĐTĐ ở giới nam (11,9%) cao hơn giới nữ (8,7%). Tỷ lệ hiện mắc xấp xỉ với kết quả trong “Báo cáo Tổng quan ngành Y tế năm 2014” của Bô Y tế (Tỷ lệ bệnh ĐTĐ trên toàn cầu năm 2008). - Thực trạng bệnh tăng huyết áp: 588 người mắc THA (39,2%). Cao hơn so với chỉ số trung bình toàn quốc (25,1%) theo điều tra của viện tim mạch Trung ương năm 2014. Tỷ lệ mắc tăng huyết áp tăng dần theo độ tuổi. Từ 15,8% ở độ tuổi 18 – 39 đến 55,3% ở độ tuổi trên 70.Tỷ lệ mắc ở giới nam (51,3%) cao hơn giới nữ (34,6%). - Có mối liên quan giữa ăn mặn với tăng huyết áp. Tỷ lệ THA cao ở nam, ở người có bệnh ĐTĐ, tăng theo tuổi,và chỉ số vòng eo. <strong><em>Kết luận: </em></strong>Nghiên cứu cho thấy đối tượng người mắc bệnh và có yếu tố nguy cơ cần được quản lý bệnh không lây tại cộng đồng cao, cho thấy cần đẩy mạnh công tác khám phát hiện THA và các can thiệp thay đổi hành vi nguy cơ tại cộng đồng. Đồng thời, cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về quản lý bệnh không lây và các yếu tố nguy cơ tại tuyến y tế cơ sở</p> Phạm Thị Lệ Thu Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-03-10 2022-03-10 51 70 72 10.47122/vjde.2022.51.9 Tỷ lệ và yếu tố liên quan hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum (4/2018 – 4/2019) https://vjde.vn/journal/article/view/329 <p>Hội chứng chuyển hóa (HCCH) là rối loạn thường gặp và liên quan đến nguy cơ nhiều bệnh mãn tính, tử vong. Mục tiêu: xác định tỷ lệ và yếu tố liên quan HCCH ở bệnh nhân (BN) đến khám tại bệnh viện đa khoa Kon Tum (2018 – 2019). Phương pháp: chẩn đoán HCCH theo đồng thuận IDF/AHA (2009). Kết quả: 1039 BN tuổi trung bình 53,26 ± 16,55 tuổi, nam chiếm tỷ lệ chủ yếu (68,91%), người Kinh chiếm 53,99%, còn lại là dân tộc thiểu số. Tỷ lệ mắc các thành phần hội chứng chuyển hóa là tăng triglyceride (68,05%), tăng glucose máu (38,69%), tăng huyết áp (36,19%), tăng vòng bụng (29,64%), giảm high-density lipoprotein cholesterol (HDL-C) (23,77%). Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa 21,75% và có xu hướng tăng theo nhóm tuổi. Nữ (OR =11,996 (6,806- 21,145), p &lt; 0,001), hút thuốc lá (OR=6,493 (3,826 - 11,019), p&lt; 0,001) và uống rượu (OR= 4,205 (2,732 - 6,472), p&lt; 0,001) có liên quan tới HCCH. Trình độ học vấn, dân tộc, nơi ở, tình trạng độc thân hay có gia đình, nghề nghiệp, các thói quen ăn mặn, ăn nhiều mỡ, ít hoạt động thể lực không liên quan tới tăng nguy cơ mắc HCCH.</p> Lê Hữu Lợi Nguyễn Quang Thiều Phan Hướng Dương Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-03-10 2022-03-10 51 73 80 10.47122/vjde.2022.51.10 Khảo sát tỷ lệ loãng xương của phụ nữ tại Bệnh viện Trung ương Huế https://vjde.vn/journal/article/view/330 <p><strong><em>Đặt vấn đề: </em></strong>Loãng xương là một bệnh thường gặp ở người lớn tuổi. Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ từ 60 tuổi trở lên có khoảng 20% mắc chứng loãng xương và ở đàn ông cùng độ tuổi trên thì tỷ lệ mắc là khoảng 10%. Một nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy khoảng 20% phụ nữ trên 60 tuổi bị loãng xương. Loãng xương là một căn bệnh âm thầm, ít được người bệnh quan tâm nhưng tiến tới hậu quả nghiêm trọng là gãy xương. Để chẩn đoán loãng xương, hiện nay đo mật độ xương bằng phương pháp đo hấp phụ năng lượng tia X kép(DEXA) được xem là phương pháp chuẩn. Để đánh giá tình hình loãng xương trên những phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Trung ương Huế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát tỷ lệ loãng xương của phụ nữ tại Bệnh viện Trung ương Huế” nhằm mục tiêu: Xác định tỷ lệ loãng xương, thiếu xương trên từng nhóm tuổi ở phụ nữ trên 40 tuổi đến khám sức khỏe. <strong><em>Phương pháp nghiên cứu: </em></strong>Mô tả cắt ngang. Phân tích mật độ xương được đo bằng phương pháp DEXA của phụ nữ từ 40 tuổi đến đo mật độ xương tại Bệnh viện Trung ương Huế. <strong><em>Kết quả: </em></strong>Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ là 15%, thiếu xương là 27%. Tỷ lệ thiếu và loãng xương tăng dần theo nhóm tuổi. Từ 60 tuổi loãng xương là 22.3% và loãng xương cột sống chiếm 52.8%, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm tuổi từ 40-49. Tỷ lệ loãng xương cột sống cũng tăng theo tuổi và tăng nhanh hơn trình trạng loãng xương chung. <strong><em>Kết luận: </em></strong>Cần đo mật độ xương thường quy cho phụ nữ có độ tuổi từ 60 để xác định tình trạng loãng xương.</p> Trần Bùi Hoài Vọng Trần Thừa Nguyên Trần Quang Nhật Trần Nhật Quang Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-03-10 2022-03-10 51 81 85 10.47122/vjde.2022.51.11 Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tổn thương mạch vành ở bệnh nhân hội chứng vành cấp dưới 40 tuổi https://vjde.vn/journal/article/view/331 <p><strong><em>Đặt vấn đề: </em></strong>Có ít dữ liệu liên quan đến đặc điểm của hội chứng vành cấp ở người Việt Nam trẻ tuổi (&lt;40 tuổi). Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh một số yếu tố nguy cơ, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tổn thương mạch vành và tiên lượng tử vong theo thang điểm GRACE, TIMI của bệnh nhân hội chứng vành cấp (HCVC) trẻ tuổi so với bệnh nhân lớn tuổi. <strong><em>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </em></strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang gồm 69 bệnh nhân HCVC tại Trung tâm Tim mạch Can thiệp Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Đại học Y Dược Huế từ tháng 5/2017 đến tháng 12/2018. Những bệnh nhân này được chia thành hai nhóm: 33 bệnh nhân &lt;40 tuổi (nhóm 1) và 36 bệnh nhân ≥40 tuổi (nhóm 2). Đặc điểm nhân trắc học, hồ sơ yếu tố nguy cơ, những phát hiện về lâm sàng, cận lâm sàng, tổn thương mạch vành và tiên lượng tử vong được so sánh giữa hai nhóm. <strong><em>Kết quả: </em></strong>So với nhóm 2, tỷ lệ nam giới, hút thuốc lá, tiền sử gia đình có bệnh động mạch vành ở nhóm 1 cao hơn và tỷ lệ tăng huyết áp, đái tháo đường thấp hơn (tương ứng 84,8%; 57,6%; 18,2% và 30,3%; 3,0% ở nhóm 1 so với 55,6%; 33,3%; 2,8% và 69,4%; 22,2% ở nhóm 2; p&lt;0,05). Nhóm 1 bị đau ngực nặng hơn (tỷ lệ đau ngực độ III-IV theo CCS là 69,7% ở nhóm 1 so với 36,1% ở nhóm 2; p&lt;0,05) và huyết áp tâm thu thấp hơn (trung vị là 120 mmHg ở nhóm 1 so với 135 mmHg ở nhóm 2; p&lt;0,05). Tỷ lệ đau thắt ngực không ổn định (ĐTNKÔĐ) và nhồi máu cơ tim có ST chênh lên (STEMI) cao hơn ở nhóm 1 (tương ứng 51,5% và 36,4% ở nhóm 1 so với 30,6% và 11,1% ở nhóm 2; p&lt;0,05); trong khi đó tỷ lệ nhồi máu cơ tim không có ST chênh lên (NSTEMI) cao hơn ở nhóm 2 (58,3% ở nhóm 2 so với 12,1% ở nhóm 1; p&lt;0,05). Nhóm 1 có nồng độ Glucose máu thấp hơn và nồng độ Creatinine máu cao hơn so với nhóm 2 (tương ứng trung vị là 5,3 mmol/l và 80 µmol/l ở nhóm 1 so với 6,44 mmol/l và 72,5 µmol/l ở nhóm 2; p&lt;0,05). Tỷ lệ bệnh động mạch vành (CAD) 1 thân, chụp động mạch vành (CAG) bình thường, hẹp động mạch vành không đáng kể ở nhóm 1 cũng cao hơn và tỷ lệ CAD đa thân thấp hơn so với nhóm 2 (tương ứng là 45,5%; 33,3%; 12,1% và 9,1% ở nhóm 1 so với 33,3%; 2,8%; 2,8% và 61,2% ở nhóm 2; p&lt;0,05). Nhóm 1 có điểm Gensini, điểm GRACE và điểm TIMI thấp hơn (tương ứng trung vị là 5; trung bình là 78,55 và trung vị là 2 ở nhóm 1 so với 37,5; 130,22 và 3 ở nhóm 2; p&lt;0,05). Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ có liên quan đến CAD tắc nghẽn ở nhóm 1 (OR = 7,12; 95% CI: 1,25-40,63; p&lt;0,05). <strong><em>Kết </em></strong><strong><em>luận: </em></strong>Bệnh nhân HCVC trẻ tuổi chủ yếu là nam giới, hút thuốc lá và có tiền sử gia đình mắc CAD; mức độ đau ngực nặng hơn và huyết áp tâm thu thấp hơn; tỷ lệ ĐTNKÔĐ và STEMI cao hơn. Ngược lại, bệnh nhân lớn tuổi có nồng độ Glucose máu cao hơn và Creatinine máu thấp hơn; tỷ lệ CAD đa thân cao hơn. Điểm Gensini, GRACE và TIMI thấp hơn ở bệnh nhân trẻ tuổi. Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ có liên quan đến CAD tắc nghẽn ở bệnh nhân trẻ tuổi.</p> Huỳnh Văn Minh Hồ Anh Bình Đinh Thế Anh Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-03-10 2022-03-10 51 86 93 10.47122/vjde.2022.51.12 An toàn và hiệu quả của liệu pháp tolvaptan trên bệnh nhân hạ natri máu nặng cấp đẳng tích hoặc thừa thể tích https://vjde.vn/journal/article/view/332 <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ của Tolvaptan trên bệnh nhân hạ Na máu nặng cấp đẳng tích hoặc thừa thể tích. <strong><em>Phương pháp nghiên cứu: </em></strong>Thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên.Đối tượng là 42 bệnh nhân (BN) hạ Na máu nặng cấp đẳng tích hoặc thừa thể tích, chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: 20 BN điều trị theo phương pháp kinh điển và 22 BN điều trị bằng Tolvaptan có thể thêm NaCl 0,9%. Chẩn đoán hạ Na máu nặng đẳng tích hoặc thừa thể tích theo tiêu chuẩn BYT VN. Phương pháp điều trị hạ Na máu kinh điển theo hướng dẫn của BYT VN. Phương pháp sử dụng Tolvaptan trong điều trị hạ Na máu dựa theo các khuyến cáo của Hoa Kỳ. <strong><em>Kết quả: </em></strong>Nhóm điều trị kinh điển phải áp dụng nhiều biện pháp để điều trị, gồm: Hạn chế tối đa lượng nước uống vào; lượng NaCl 0,9% (chai 500ml) CTM trung bình là 6,60 ± 1,5; Trung vị lượng NaCl 3% (chai 100ml) CTM và Furosemide (ống 20mg) là 6,00 (5,00 – 7,00) và 1,00 (0,00 – 2,00) trong khi nhóm sử dụng Tolvaptan thì không cần hạn chế uống, không sử dụng NaCl 3%, không sử dụng Furosemid. Lượng NaCl 0,9% (chai 500ml) CTM trung bình sử dụng ở nhóm Tolvaptan là 2,45 ± 1,34 ít hơn so với nhóm kinh điển (6,60 ± 1,5); p &lt; 0,001. Thời gian (h) điều trị đạt mục tiêu Na máu của cả 2 nhóm đều lớn hơn thời gian kỳ vọng: Trung vị ở nhóm điều trị kinh điển là 36,00 (24,00 - 46,00) so với 22,00 (18,50 – 33,50), p = 0,001; Trung vị ở nhóm có Tolvaptan là 24,00 (23,50 - 35,00) so với 22,00 (20,00 – 35,00), p = 0,016. Trong đó thời gian điều trị thực của nhóm có Tolvaptan thấp hơn nhóm điều trị kinh điển (p = 0,027). Trung vị thời gian cải thiện dấu hiệu nôn ói và cải thiện dấu hiệu mệt mỏi là 03h và 12h ở nhóm có Tolvaptan, thấp hơn ở nhóm điều trị kinh điển (06h và 22h), p = 0,002 và 0,001. Về tác dụng phụ của điều trị: Phù và hạ Kali máu chỉ gặp ở nhóm điều trị kinh điển với tỷ lệ 20% và 55%, ngược lại nhóm có Tolvaptan không có BN nào bị phù hoặc hạ Kali máu trong khi có đến 81,8% BN tiểu nhiều, (p = 0,003 và p &lt; 0,001), cả hai nhóm không có BN nào bị tăng Na máu theo thời gian vượt quá kỳ vọng gây nguy cơ hủy Myelin. Liều Tolvaptan chủ yếu là 7,5mg và 11,25mg (chiếm tỷ lệ 45,5% và 36,4%), 13,6% dùng liều 15mg và chỉ 4,5% dùng liều 18,75mg. Lưu lượng nước tiểu (ml/h) trung bình của nhóm Tolvaptan tại các thời điểm 03h; 06h; 12h và 24h lần lượt là: 205,00 ± 61,00; 225,45 ± 52,44; 195,91 ± 48,17 và 167,27 ± 41,19. Mức tăng Na máu (mmol/L) trung bình của nhóm Tolvaptan tại các thời điểm 03h; 06h; 12h và 24h lần lượt là 2,32 ± 0,78; 4,50 ± 0,67; 8,18 ± 1,44 và 13,68 ± 1,62. <strong><em>Kết luận: </em></strong>Sử dụng Tolvaptan trong điều trị hạ Na máu nặng cấp đẳng tích hoặc thừa thể tích đơn giản, hiệu quả và dễ dung nạp hơn phương pháp điều trị kinh điển (do: không cần hạn chế uống nước, không sử dụng NaCl ưu trương và không sử dụng Furosemid). Liều Tolvaptan khởi đầu 7,5mg, tăng liều nhỏ 3,75mg mỗi 03h, liều tối đa 18,75mg cho thấy an toàn và hiệu quả.</p> Lê Thị Thu Trang Nguyễn Hải Thủy Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-03-10 2022-03-10 51 94 104 10.47122/vjde.2022.51.13