Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology https://vjde.vn/journal <p>Tạp chí Nội tiết- Đái tháo đường Việt Nam đã được ra đời theo quyết định số 1740/GP-BTTT ngày 18 tháng 11 năm 2010, do Thứ trưởng Bộ Thông tin- Truyền thông Đỗ Quý Doãn ký. Tạp chí được Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học- Công nghệ cấp Mã số chuẩn quốc tế ISSN 1859 – 4727 theo Quyết định số 18/TTKHCN – ISSN, do Cục trưởng Tạ Bá Hưng ký ngày 11/4/2012. Tạp chí đã được Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước tính điểm công trình: 0- 0,5.</p> <p>Tạp chí là nơi đăng tải tất cả các thông tin, hoạt động khoa học cập nhật của chuyên ngành Nội tiết, ĐTĐ, Rối loạn chuyển hóa trong cả nước và thế giới.</p> <p>Hàng năm, Tạp chí xuất bản 06- 08 số, trong đó có 01- 02 số bằng tiếng Anh đạt chất lượng và có uy tín trên toàn quốc. Các bài báo có đầy đủ phản biện theo đúng qui định của Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước và Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Y.</p> <p>Tạp chí cũng được công bố online tất cả các số tại địa chỉ: <a href="http://vjde.vn/">http://vjde.vn/</a></p> Hội Nội tiết & Đái tháo đường Việt Nam vi-VN Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 1859-4727 U xơ dạng gân vùng cổ: Báo cáo một ca bệnh https://vjde.vn/journal/article/view/367 <p>U xơ dạng gân là bệnh tổ chức liên kết khu trú sâu, phát triển cục bộ trong các mô cơ thần kinh, hiếm gặp ở cổ. Bệnh nhân Hoàng Thị N., nữ, 29 tuổi. Tiền sử ung thư tuyến giáp thể nhú di căn hạch đã phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp và nạo vét hạch tháng 1/2020, điều trị 1 đợt I-131. Tháng 7/2021, bệnh nhân tái khám phát hiện khối bất thường vùng cổ trước bên phải phát triển nhanh. Siêu âm, chụp cắt lớp vi tính cho hình ảnh khối vùng cổ phải giống mô mềm, xâm lấn xung quanh. BN được phẫu thuật cắt khối u cổ phải. Hóa mô miễn dịch: u xơ dạng gân.</p> Nguyễn Ánh Ngọc Trần Ngọc Lương Trần Đoàn Kết Phạm Quyết Thắng Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 80 84 10.47122/vjde.2021.50.10 Nhân một ca lâm sàng loét bàn chân phức tạp trên bệnh nhân đái tháo đường được điều trị thành công bằng phối hợp nhiều phương pháp liền thương tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương https://vjde.vn/journal/article/view/393 <p>Biến chứng bàn chân là một trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của đái tháo đường. Theo IDF, cứ 20 giây trôi qua lại có 1 người bị đoạn chi do biến chứng này, và với người bệnh đã đoạn chi, tỉ lệ tử vong sau 5 năm lên tới 50% - 60%[1]. Biến chứng bàn chân không những là một gánh nặng lớn về sức khỏe, tâm lí và chi phí đối với người bệnh mà còn ảnh hưởng đến chăm sóc y tế trong toàn xã hội nói chung. Tuy nhiên cũng có 45% đến 80% số bệnh nhân bàn chân đái tháo đường sẽ tránh được đoạn chi nếu được điều trị đúng cách[2]. Trên thực tế, nhiều vết loét bàn chân đái tháo đường rất phức tạp, gây ra bởi nhiều cơ chế bệnh lý khác nhau. Việc điều trị tích cực, kết hợp nhiều chuyên ngành và nhiều phương pháp liền thương là điều vô cùng cần thiết để giảm nguy cơ đoạn chi và rút ngắn thời gian điều trị.</p> Nghiêm Tuấn Nghĩa Đặng Thị Mai Trang Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 186 193 10.47122/vjde.2021.50.22 Cập nhật các hệ thống dữ liệu và báo cáo hình ảnh tuyến giáp (TI-RADS) trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp https://vjde.vn/journal/article/view/348 <p>Ung thư tuyến giáp là bệnh ác tính thường gặp nhất của hệ nội tiết và đang có xu hướng gia tăng trên toàn cầu. Tuy nhiên, ung thư tuyến giáp có tỷ lệ điều trị thành công cao nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm (kính thước khối u nhỏ, khối u chưa xâm lấn xung quanh, chưa di căn…), tiên lượng bệnh cũng tốt hơn các so với các loại ung thư khác. Nhiều hệ thống đánh giá nguy cơ ung thư tuyến giáp dựa trên các đặc điểm thành phần, mật độ âm, bờ, hình dạng, độ hồi âm được sử dụng. Năm 2017, hệ thống báo cáo dữ liệu hình ảnh tuyến giáp (Thyroid Imaging, Report and Data System – ACR-TIRADS) của Hội điện quang các trường đại học Mỹ được sử dụng rộng rãi, với 5 phân độ theo mức nghi ngờ ung thư tăng dần; Cùng năm đó, Hiệp hội tuyến giáp Châu Âu đã ban hành Hướng dẫn về siêu âm phân tầng nguy cơ bệnh ác tính của nhân tuyến giáp ở người lớn (EU-TIRADS) với 5 phân độ. Hội điện quang tuyến giáp Hàn Quốc và Hội tuyến giáp Hàn Quốc cũng đã điều chỉnh, sửa đổi phân độ TIRADS (K-TIRADS) theo 5 phân độ; theo đó, tần xuất ác tính ghi nhận ở các mức độ: TIRADS 5&gt; 60%, TIRADS 4 &gt; 15-50%, TIRADS 3 3-15%, TIRADS 2 &lt;3%. Để thuận tiện cho việc phân loại, sàng lọc và theo dõi, tất cả các nhân tuyến giáp nên được phân độ TIRADS, có thể tuỳ chọn phân độ theo ACR-TIRADS, EU-TIRADS hoặc&nbsp; K- TIRADS vì các hệ thống này có sự tương đồng về tiêu chuẩn hình ảnh, giá trị chẩn đoán và khuyến cáo chỉ định FNA.</p> Nguyễn Bá Sỹ Ngô Đức Cường Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 2 14 10.47122/vjde.2021.50.1 Áp dụng phân loại mô bệnh học của WHO 2017 trong chẩn đoán các u biểu mô tuyến giáp https://vjde.vn/journal/article/view/349 <p>Bệnh lý tuyến giáp là bệnh lý thường gặp với biểu hiện lâm sàng chính là nhân tuyến giáp. Ngày nay, với sự phát triển của siêu âm, tỷ lệ nhân tuyến giáp được phát hiện ngày càng nhiều, trong đó u tuyến giáp chiếm 15- 20%. Bảng phân loại các khối u nội tiết của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) năm 2017 dựa trên những hiểu biết về bệnh học, diễn tiến lâm sàng và sinh học phân tử đã cung cấp cơ sở lý luận cũng như các tiêu chuẩn chẩn đoán giúp cho các nhà giải phẫu bệnh và các bác sĩ lâm sàng cải thiện sự thực hành trong chẩn đoán và điều trị cũng như tiên lượng các khối u biểu mô tuyến giáp.</p> <p>Việc áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán u biểu mô tuyến giáp (UBMTG) theo TCYTTG 2017 sẽ đem đến nhiều lợi ích cho việc chăm sóc bệnh nhân, thúc đẩy nghiên cứu và có khả năng áp dụng rộng rãi tại tất cả các cơ sở giải phẫu bệnh.</p> Đào Thị Luận Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 15 20 10.47122/vjde.2021.50.2 Quản lý bệnh tuyến giáp trong đại dịch COVID-19 https://vjde.vn/journal/article/view/352 <p>Bệnh Coronavirus mới (COVID-19) do Coronavirus 2 gây ra hội chứng suy hô hấp cấp tính (SARS-CoV-2) đã ảnh hưởng đến hàng trăm triệu người trên toàn thế giới kể từ trường hợp đầu tiên được báo cáo vào tháng 12 năm 2019. Đại dịch COVID-19 đòi hỏi nỗ lực chung của các chuyên gia chăm sóc sức khỏe thuộc mọi lĩnh vực kiến thức, bao gồm cả bác sĩ nội tiết, để giúp chống lại sự tiến triển và hậu quả của nhiễm trùng trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy rằng những bệnh nhân mắc các bệnh nội tiết trước đó có nguy cơ tiến triển COVID-19 nặng. Tuy nhiên thông tin về sự liên quan của bệnh lý tuyến giáp trong nhiểm SARS-CoV-2 chưa thấy đề cập nhiều. Qua một số nghiên cứu trong đại dịch ghi nhận sự liên quan giữa nhiễm COVID-19 với một số bất thường của trục Vùng dưới đồi- Tuyến yên-Tuyến giáp. Ngoài ra viêm tuyến giáp bán cấp, viêm tuyến giáp Hashimoto và nhiễm độc giáp liên quan các cytokine cũng đã được ghi nhận. Vì vậy các bác sĩ trong và ngoài chuyên ngành chăm sóc bệnh nhân COVID-19 cần nhận biết các bất thường tiềm ẩn về bệnh tuyến giáp ở những bệnh nhân không có bệnh tuyến giáp từ trước và quản lý tốt những bệnh nhân đã có bệnh tuyến giáp được chẩn đoán trước đó.Bệnh cạnh đó sự sử dụng các thuốc như Glucocorticoid và Heparin trong quá trình điều trị bệnh nhân bị nhiểm COVID cũng có thể gây ra một số rối loạn chức năng tuyến giáp cần nhận biết để theo dõi và điều trị kịp thời nhằm nâng cao chất lượng sống và cải thiện chất lượng điều trị cũng như tiên lượng cho bệnh nhân có Bệnh Lý Tuyến giáp trong Đại dịch CoVID như hiện nay.</p> Nguyễn Hải Thủy Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 21 42 10.47122/vjde.2021.50.3 Quản lý bệnh nhân đái tháo đường trong đại dịch Covid-19 https://vjde.vn/journal/article/view/406 <p>Bệnh Coronavirus-19 (Coronavirus Disease 2019: COVID-19 ) do Coronavirus 2 gây ra hội chứng suy hô hấp cấp tính nghiêm trọng (Severe Acute Respiratory Syndrome Coronavirus 2: SARS-CoV-2 ) đã và đang gây nguy hại đến tính mạng của hàng trăm triệu bệnh trên toàn thế giới. Theo số liệu của Tổ Chức Y tế Thế Giới ( WHO) tính đến đến ngày 16/11/2021 có trên 252 triệu người nhiểm COVID-19 trong đó số đó có trên 5 triệu người đã tử vong ( bảng 1).</p> <p>Sự bùng phát của đại dịch COVID-19 là tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng được quốc tế quan tâm hiện nay nhất là những đối tượng có bệnh nền trong đó phải kể đến bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ). Thật vậy MicroRNA là một chất liên quan đến điều hòa biểu hiện gen, đóng một vai trò quan trọng trong phản ứng viêm và miễn dịch. Micro RNA có thể ức chế có hiệu quả sự sao chép của SARS-CoV-2 bằng cách nhắm mục tiêu trực tiếp vào protein S. Nghiên cứu từ Đại học Nam Kinh ở Trung Quốc (17/8/2021) đã xác định được 4 microRNA đang lưu hành (miR- 7-5p, miR-24-3p, miR-145-5p và miR-223- 3p). Qua nghiên cứu này đã ghi nhận hàm lượng cao miRRNA ở những người khỏe mạnh, đặc biệt trên đối tượng tập thể dục liên tục có thể tăng cường miễn dịch miRNA chống lại SARS-CoV-2. Trong khi đó nồng độ miRRNA thấp hơn nhiều gặp ở người lớn tuổi và bệnh nhân đái tháo đường. Qua đó các nhà khoa học cũng đã xác định nồng độ thấp microRNA (miRNA) ở người lớn tuổi và những người mắc bệnh ĐTĐ đã làm tăng nguy cơ nhiễm và tiến triễn nặng khi bị nhiểm COVID-19.</p> Nguyễn Hải Thủy Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 128 146 10.47122/vjde.2021.50.17 Bước đầu đánh giá một số vaccine phòng ngừa COVID-19 https://vjde.vn/journal/article/view/389 <p>Bệnh COVID-19 do một loại coronavirus có tên là SARS-CoV-2 gây ra, chủ yếu lây lan qua tiếp xúc gần. Không chỉ ảnh ưởng đến đường hô hấp, các cơ quan khác trong cơ thể cũng bị ảnh hưởng ở các mức độ từ nhẹ đến nặng. Những người mắc COVID-19 biểu hiện với các triệu chứng từ nhẹ đến nặng và thậm chí tử vong. Cho đến nay, ngành y tế của nhiều nước trên thế giới thống nhất chung phương cách kiểm soát đại dịch COVID-19 gồm 3 khâu chính: (1) Tránh lan truyền bằng 5K; (2) Điều trị tích cực các ca nhiễm, các ca F0, cố gắng giảm thấp tử vong; và (3) Ngừa lây nhiễm bằng tiêm phòng vaccine diện rộng, ít nhất 80% dân số; trong đó tiêm vaccine phòng ngừa COVID-19 là biện pháp tích cực và hữu hiệu nhất. Từ vaccine ngừa bệnh đậu mùa do bác sĩ Edward Jenner (1749-1823), nước Anh, phát minh năm 1798, nhân loại phát triển rất nhiều loại vaccine phòng bệnh lây nhiễm khác. Đến nay, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã công nhận tiêm vaccine là phương thức bảo vệ hiệu quả nhất nhằm giúp nhân loại tránh được các bệnh truyền nhiễm. Nhiễm SARS-CoV-2 gây COVID-19 với nhiều mức độ từ không triệu chứng đến nhẹ, nặng thậm chí tử vong [10]. Ngay từ khi bệnh khởi phát, các nhà khoa học đã nghiên cứu phát triển các vaccine phòng COVID-19. Các thử nghiệm lâm sàng trên người (clinical trial) đã bắt đầu tiến hành ngay trong năm 2020 tại Hoa Kỳ và một số các nước Châu Âu và Trung Quốc [15],[16], và đã có một số quốc gia tiêm chủng trước khi có kết quả lâm sàng. Theo thống kê của WHO, cho đến tháng 7/2021 hiện có 330 loại vaccine ngừa COVID-19 đang được thử nghiệm tiền lâm sàng trên động vật và lâm sàng trên người [1]. Trong đó có 102 đang trong nghiên cứu lâm sàng gồm 30 giai đoạn I, 30 trong giai đoạn I – II, 25 trong giai đoạn III, và 8 trong giai đoạn phát triển IV [1]. Một số vaccine Covid-19 đã được phê duyệt sử dụng khẩn cấp [16],[24] và nhiều vaccine còn đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng cuối cùng [17]. Hiện nay, chỉ có 6 vaccine đã được WHO đưa vào danh sách sử dụng khẩn cấp [9]. Nhiều loại vaccine ngừa COVID-19 ở Việt Nam và trên thế giới đã được chứng minh là có hiệu quả hạn chế lây nhiễm và mức độ bệnh nặng.</p> Nguyễn Hải Quý Trâm Huỳnh Lê Thái Bão Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 147 162 10.47122/vjde.2021.50.18 Hỗ trợ bệnh nhân đái tháo đường có loét bàn chân tự điều trị theo dõi tại nhà trong thời gian giãn cách xã hội do Covid-19 https://vjde.vn/journal/article/view/412 <p>Bệnh lý loét bàn chân Đái tháo đường là một trong những biến chứng quan trọng nhất của người bệnh có ĐTĐ bởi hậu quả năng nề nó gây ra không nhưng làm tăng tỷ lệ tử vong, giảm chất lượng cuộc sống cũng như gánh nặng về chi phí điều trị.[1] Việc trì hoãn điều trị cũng như trậm chễ đến viện đối với những vết loét nhiễm trùng hoặc nhiễm trùng kết hợp thiếu máu làm tăng nguy cơ đoạn chi cũng như thời gian điều trị. Đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp làm hạn chế việc tiếp cận các dịch vụ y tế, thăm khám và điều trị bởi các bác sĩ chuyên khoa. Do đó việc hỗ trợ hướng dẫn tự chăm sóc và theo dõi vết thương tại nhà trong thời gian giãn cách do COVID-19 cũng đạt được những hiệu quả kể đáng trong việc giảm tần suất nhập viện, rút ngắn thời gian điều trị[2].</p> Lê Văn Chương Đặng Thị Mai Trang Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 228 233 10.47122/vjde.2021.50.28 Kết quả phẫu thuật nội soi cắt một thùy tuyến giáp điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa nguy cơ thấp tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương https://vjde.vn/journal/article/view/354 <p><strong><em>Đặt vấn đề</em>: </strong>Phẫu thuật nội soi (PTNS) tuyến giáp mới được thực hiện ở một số trung tâm lớn ở một số bệnh nhất định của tuyến giáp với số lượng còn rất hạn chế. Nghiên cứu đánh giá kết quả ban đầu ứng dụng PTNS điều trị ung thư tuyến giáp (UTTG) thể biệt hóa nguy cơ thấp. <strong><em>Đối tượng và phương pháp</em>: </strong>Nghiên cứu mô tả tiến cứu theo dõi dọc. Bệnh nhân (BN) UTTG thể biệt hóa nguy cơ thấp điều trị PTNS cắt một thùy tuyến giáp (không nạo vét hạch) theo kỹ thuật của Bệnh viện Nội tiết Trung ương . Thống kê các chỉ tiêu nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý, kỹ thuật mổ, kết quả sớm. <strong><em>Kết quả</em>: </strong>từ 7/2019 đến 2/2020 có 85 BN được lựa chọn. Tuổi trung bình 32,9 ± 7,1 (16- 45). Nữ có 71 BN (83,5%). Kích thước trung bình u 6,7 ± 2,2mm. Thời gian mổ trung bình 48,2 ± 7,5 phút. 73 BN UTTG thể nhú, 12 BN UTTG thể nang. Có 1 BN chảy máu sau mổ, không có BN nào phải chuyển mổ mở, không có BN suy cận giáp hay tổn thương thần kinh thanh quản quặt ngược tạm thời. <strong><em>Kết luận</em>: </strong>PTNS cắt một thuỳ tuyến giáp không nạo vét hạch là an toàn và hiệu quả trong điều trị UTTG thể biệt hóa nguy cơ thấp.</p> Trần Ngọc Lương Đinh Ngọc Triều Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 43 48 10.47122/vjde.2021.50.4 Phẫu thuật nội soi một lỗ cắt thùy tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương giai đoạn 2018 - 2021 https://vjde.vn/journal/article/view/355 <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi một lỗ cắt 1 thùy tuyến giáp tại bệnh viên Nội tiết Trung ương . <strong><em>Kết quả</em>: </strong>54 bệnh nhân bao gồm 51 bệnh nhân là nữ. Tuổi trung bình: x 34,7 ± 8.4 tuổi (dao động từ 17 - 56 tuổi). Chẩn đoán bướu nhân một thùy tuyến giáp lành tính và cắt một thùy tuyến giáp với kích thước nhân trung bình 2,7 ± 1.0 cm, thời gian mổ trung bình 66.02 ± 12.9 phút. Phẫu thuật nội soi một lỗ tiến hành trong toàn bộ nghiên cứu bằng một đường rạch da ở nách dài 3 cm, với các dụng cụ nội soi đi chung qua 1 cổng, không có trường hợp nào phải đặt thêm trocar vị trí khác, không có trường hợp nào phải chuyển mổ mở. Tai biến trong mổ: Không có trường hợp nào chảy máu mổ lại, thủng khí quản, đứt dây thần kinh quặt ngược, bỏng da. Sau mổ có 8 bệnh nhân khàn tiếng tạm thời và tất cả hồi phục sau 3 tháng khám lại. <strong><em>Kết luận: </em></strong>Mổ nội soi một lỗ cắt 1 thùy tuyến giáp là phương pháp hiệu quả, ít biến chứng, để lại sẹo ở vùng hõm nách. Đây là một hướng phát triển mới cho lĩnh vực phẫu thuật nội soi.</p> Phan Hoàng Hiệp Nguyễn Thái Hoàng Nguyễn Văn Lộc Nguyễn Giang Sơn Trần Ngọc Lương Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 49 54 10.47122/vjde.2021.50.5 Kết quả sớm phẫu thuật cường cận giáp nguyên phát tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương giai đoạn 2016-2018 https://vjde.vn/journal/article/view/357 <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát và đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật điều trị cường cận giáp nguyên phát tại Bệnh Viện Nội tiết Trung ương giai đoạn 2016-2018<em>. <strong>Đối tượng: </strong></em>35 bệnh nhân thỏa mãn tiêu chí. <strong><em>Phương pháp nghiên cứu: </em></strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu<em>. <strong>Kết quả: </strong></em>35 bệnh&nbsp; nhân bao gồm 27(77,1%) nữ và 8 (22,9%)&nbsp;&nbsp; nam. Độ tuổi từ 15 đến 81, trung bình là 44,9. Các dấu hiệu lâm sàng thường gặp: mệt mỏi, tiểu nhiều, đau xương khớp, gầy sút. Cận lâm sàng: tăng PTH- 100%(35)<em>, </em>tăng canxi máu chiếm 93,5 %(32). Độ nhạy của siêu âm và xạ hình cận giáp tìm thấy vị trí u lần lượt là 85,7% (30/35) và 82,9% (29/35). Tất cả bệnh nhân đều có giảm nồng độ PTH trên 50% sau phẫu thuật 10 phút. Nồng độ PTH trở về bình thường sau 24h, canxi máu trở về bình thường sau 3 ngày<em>. <strong>Kết luận: </strong></em>Cường cận giáp nguyên phát là một bệnh hiếm gặp, biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, không điển hình, thường phát hiện ở giai đoạn có triệu chứng. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, xét nghiệm canxi máu và PTH. Siêu âm và xạ hình cận giáp có độ nhạy cao, giúp định hướng cho phẫu thuật lấy u. Định lượng PTH trong mổ cho phép đánh giá nhanh kết quả phẫu thuật.</p> Nguyễn Ngọc Huân Trần Ngọc Lương Phùng Duy Hồng Sơn Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 55 61 10.47122/vjde.2021.50.6 Ứng dụng hệ thống theo dõi thần kinh NIM VITAL ở bệnh nhân có nguy cơ cao tổn thương dây thần kinh thanh quản trong phẫu thuật tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương https://vjde.vn/journal/article/view/360 <p><strong><em>Đặt vấn đề: </em></strong>Ứng dụng hệ thống theo dõi thần kinh NIM VIRAL đã được ứng dụng nhiều trong phẫu thuật đầu- mặt- cổ, đặc biệt là trong phẫu thuật tuyến giáp nhằm giảm tai biến tổn thương thần kinh thanh quản quặt ngược (TKTQQN). Đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ cao như: mổ cũ, liệt dây thanh quản một bên, ung thư tuyến giáp xâm lấn và bướu giáp thòng trung thất. Ở những bệnh nhân này các mốc giải phẫu định hướng tìm dây thần kinh thanh quản thường bị biến đổi, do đó ứng dụng hệ thống theo dõi thần kinh NIM VIRAL ở những bệnh nhân này là hết sức cần thiết. <strong><em>Đối tượng và phương pháp: </em></strong>Nghiên cứu tiến cứu mô tả. 14 bệnh nhân chẩn đoán bướu giáp có nguy cơ cao tổn thương thần kinh thanh quản trong phẫu thuật tham gia nghiên cứu. <strong><em>Kết quả: </em></strong>14 bệnh nhân chẩn đoán bướu giáp có nguy cơ cao tổn thương thần kinh thần quản trong phẫu thuật, bao gổm: 11 BN (78,6%) bướu đa nhân 2 thùy tuyến giáp/ mổ cũ, 2 BN (14,3%) bướu đa nhân 2 thùy tuyến giáp/ mổ cũ- liệt thanh quản 1 bên, 1 BN (7,1%) bướu giáp thòng trung thất. Độ tuổi trung bình 51,38 ± 10,02, trong đó nữ chiếm 100%. Ở những bệnh nhân có nguy cơ cao tổn thương dây TKTQQN thì ứng dụng NIM VIRAL để xác định dây thần kinh này là rất hiệu quả. Sau mổ tất cả bệnh nhân cho kết quả rất tốt. <strong><em>Kết luận</em></strong><em>: </em>Ứng dụng hệ thống NIM VIRAL ở bệnh nhân có nguy cơ cao tổn thương dây TKTQQN trong phẫu thuật tuyến giáp cho kết quả rất tốt. Hệ thống NIM có vai trò làm giảm nguy cơ tổn thương dây TKTQQN</p> Trần Xuân Hùng Phan Hoàng Hiệp Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 62 65 10.47122/vjde.2021.50.7 Đánh giá hiệu quả điều trị nhân giáp lành tính bằng sóng cao tần có siêu âm dẫn đường tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương https://vjde.vn/journal/article/view/361 <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân bướu giáp nhân được điều trị bằng sóng cao tần (RF) và đánh giá hiệu quả can thiệp điều trị nhân giáp lành tính bằng điều trị sóng cao tần (RF) có siêu âm dẫn đường. <strong><em>Đối tượng và phương pháp: </em></strong>Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp không đối chứng, đánh giá trước sau được tiến hành tại Bệnh viện Nội tiết trung ương từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 3 năm 2018. Nghiên cứu thu thập thông tin trên 172 bệnh nhân có nhân giáp lành tính đến khám tại khoa bệnh lý tuyến giáp-Bệnh viện Nội tiết trung ương và sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng đánh giá lại trên siêu âm tuyến giáp mức độ giảm tưới máu nhân, giảm kích thước. Dữ liệu sau khi thu thập được nhập liệu bằng phần mềm Epidat 3.1 và phân tích bằng SPSS 20.0. <strong><em>Kết quả</em></strong><em>: </em>Trong số 172 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, 43 đối tượng theo dõi đầy đủ sau thủ thuật ở thời điểm 1, 3 và 6 tháng. Tuổi trung bình 46,65 ± 12,02, thấp nhất 15 tuổi, cao nhất 64 tuổi; đa số là nữ giới (90,7%) Trước điều trị: thể tích nhân giáp trong nghiên cứu 5,48 ± 3,41ml (1,66 - 13,36) ml, sờ thấy nhân giáp 32,6% (14 BN), nhìn và sờ thấy là 67,4% (29 BN), tất cả bệnh nhân đều sờ thấy, có bệnh nhân sờ và nhìn thấy nhân giáp (nhân giáp lồi trước cổ); 100% bệnh nhân bình giáp trước thủ thuật. Sau điều trị bằng RFA dưới siêu âm dẫn đường cho thấy hiệu quả, an toàn, giảm đáng kể khối lượng nhân giáp mà không ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp. Cụ thể: kích thước nhân giảm từ 5,48 ± 3,41 ml xuống còn 3,03 ± 2,72 ml sau 1 tháng (giảm 45,15 ± 36,99%) và xuống còn 1,75 ±1,58 ml (giảm 68,52 ± 16,33%) ở thời điểm 3 tháng, còn 0,93 ± 0,99 ml (giảm 82,55 ± 11,67%). Dấu hiệu sờ thấy và nhìn thấy đều giảm, tăng tỉ lệ không sờ thấy. <strong><em>Kết luận</em></strong><em>: </em>RFA là phương pháp hiệu quả, an toàn và hầu như không có biến chứng.</p> Lê Thị Việt Hà Đàm Văn Toại Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 66 71 10.47122/vjde.2021.50.8 So sánh hiệu quả của C- MAC video Laryngoscope với soi thanh quản trực tiếp Macintosh trong gây mê đặt ống nội khí quản khó để mổ tuyến giáp https://vjde.vn/journal/article/view/407 <p><strong><em>Đặt vấn đề: </em></strong>Mặc dù nội soi thanh quản trực tiếp (DL- Direct Laryngoscopy) với đèn soi thanh quản Macintosh thông thường vẫn là kỹ thuật phổ biến nhất để đặt NKQ. Sự xuất hiện máy nội soi thanh quản hỗ trợ video (VL - Video C-MAC Laryngoscopy) trong thời gian gần đây đã thay đổi thực tiễn đó [1]. Máy soi thanh quản video đã được thiết kế để vượt qua một số thách thức liên quan đến đặt NKQ khó khăn. Kỹ thuật này được coi là một trong những tiến bộ chính trong thực hành gây mê trong những năm gần đây[3]. <strong><em>Đối tượng và phương pháp: </em></strong>Nghiên cứu tiến cứu mổ tả 267 BN được gây mê để mổ tuyến giáp và có 2 yếu tố đặt ống NKQ khó, tiến hành lần lượt so sánh 2 phương pháp DL và VL để đặt ống NKQ <strong><em>Kết quả: </em></strong>Các yếu tố thông thường tiên lượng đặt ống NKQ khó trong gây mê mổ tuyến giáp là: Phát âm khó, khàn tiếng, bệnh nhân (BN) có cảm giác khó thở.: Mallampati độ ≥ 3; test cắn môi trên độ 2 và 3; khoảng cách (K/C) hai hàm răng &lt; 3,5cm; KC cằm móng &lt; 4cm; K/C giáp cằm &lt; 6cm; di động đầu cổ &lt; 90<sup>0</sup> , DĐ hàm trên &lt; 35<sup>0</sup>; góc qua xương hàm trên và thành sau họng &lt; 90<sup>0</sup>. Hình ảnh Xquang KC xương chẩm và chỗ lồi đốt sống cổ C1 &lt; 4mm. Bướu thòng và Ung thư tuyến giáp có thời gian đặt ống NKQ và các biến chứng trong mổ cũng như sau mổ cao hơn so với nhóm (Basedow và bướu nhân lành tính). . Kết luận Hiệu quả của VL so với DL trong đặt ống NKQ khó để mổ tuyến giáp có ưu điểm hơn là: Thời gian bộc lộ được độ cao nhất Cormarck Lehane (C/L) của VL <em>nhanh hơn </em>so với DL. Hình ảnh soi thanh quản C/L của VL <em>tốt hơn </em>DL.</p> Trần Ngọc Tuấn Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 72 79 10.47122/vjde.2021.50.9 Đánh giá di căn hạch của ung thư tuyến giáp thể biệt hóa https://vjde.vn/journal/article/view/368 <p><strong><em>Đặt vấn đề</em>: </strong>Ung thư tuyến giáp (UTTG) thể biệt hóa có tỷ lệ di căn hạch khá cao. Nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá di căn hạch của UTTG thể biệt hóa. <strong><em>Đối tượng và phương pháp</em>: </strong>Nghiên cứu mô tả tiến cứu. Bệnh nhân (BN) UTTG thể biệt hóa điều trị cắt toàn bộ tuyến giáp và vét hạch hệ thống theo chỉ định tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương . Các chỉ tiêu nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý, tình trạng di căn hạch cổ và các yếu tố liên quan. <strong><em>Kết quả</em>: </strong>từ 10/2019 đến 10/2020 có 286 BN được lựa chọn. Tuổi trung bình 42,1, tỷ lệ nữ/nam là 10/3. Kích thước u thường gặp là 1-2cm chiếm 65,7%, u kích thước 2-4cm chiếm 30%. Chỉ có 18 BN có u kích thước &gt; 4cm chiếm tỷ lệ 6,3%. Phát hiện hạch cổ trước mổ 32,9%, chủ yếu hạch cổ cùng bên. Tỷ lệ di căn hạch: 60,1%, tỷ lệ di căn hạch tiềm ẩn: 43%. Di căn theo nhóm hạch: nhóm VI (52,8%), nhóm hạch cảnh (31,1%). Tỷ lệ di căn hạch ở nhóm BN có hạch trên lâm sàng cao hơn so với BN không có hạch trên lâm sàng: 64,9% so với 43,0% (p&lt;0,001). Tỷ lệ di căn hạch của UTTG thể nhú cao hơn thể nang (p&lt;0,001). <strong><em>Kết luận</em>: </strong>Với tỷ lệ di căn hạch cao, cần cân nhắc vét hạch vét hạch ở BN UTTG thể biệt hóa.</p> Phan Hoàng Hiệp Nguyễn Giang Sơn Đinh Ngọc Triều Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 85 90 10.47122/vjde.2021.50.11 Kết quả phẫu thuật ung thư tuyến giáp thể biệt hóa tái phát tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương https://vjde.vn/journal/article/view/370 <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Đánh giá kết quả phẫu thuật ung thư tuyến giáp (UTTG) thể biệt hóa tái phát tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương . <strong><em>Đối tượng và phương pháp</em></strong><em>: </em>Nghiên cứu mô tả 62 trường hợp UTTG thể biệt hoá tái phát vùng cổ được phẫu thuật tại Bệnh viện Nội tiết TW giai đoạn 2017 - 2019. <strong><em>Kết quả: </em></strong>Tuổi trung bình 43,2 ± 12,6 tuổi. Tỷ lệ nữ/nam = 3,4/1. Trung vị thời gian tái phát 22 tháng. Phát hiện bệnh qua khám định kỳ 82,3%. Khám lâm sàng phát hiện 33,9%. Siêu âm phát hiện 96,8%. Tg dương tính 80,6%; trung vị 31,34 ng/ml; Anti -Tg dương tính 19,4%; trung vị 20,0 IU/ml. Xạ hình toàn thân dương tính 53,2%. PET/CT dương tính 100%. Phương pháp phẫu thuật: cắt lại TBTG + vét hạch cổ 12,9%; vét hạch cổ đơn thuần 87,1%. Vị trí vét hạch: khoang trung tâm 16,1%; khoang bên 59,7%; khoang trung tâm &amp; khoang bên 26,2%. Khối tái phát xâm lấn 22,6%. Tai biến : tổn thương mạch máu lớn 3,2%, tổn thương dây TKTQ 1,6%, tổn thương khí quản 1,6%, tổn thương tuyến cận giáp 4,8%, tổn thương mạch bạch huyết 4,8% đều được xử trí ngay trong mổ. Biến chứng: chảy máu 1,6%; suy hô hấp 1,6%; khàn tiếng 4,8%; tê chân tay 12,9%; tụ dịch vết mổ 4,8%; rò dưỡng chấp 6,5% trong đó 1 BN (1,6%) phải mổ khâu lại đường rò. Khám lại sau 3 tháng còn 1 BN liệt dây thanh (1,6%) và 1 BN suy cận giáp (1,6%); Tg dương tính 74,2%; trung vị 14,28; Anti-Tg dương tính 12,9%; trung vị 15,15; 19,4% BN điều trị hormone đơn thuần; 80,6% BN điều trị I<sup>131</sup>. <strong><em>Kết luận: </em></strong>Phẫu thuật là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho bệnh UTTG thể biệt hóa tái phát.</p> Phạm Bá Tuân Trần Ngọc Lương Phan Hoàng Hiệp Đinh Văn Trực Nguyễn Ngọc Huân Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 91 98 10.47122/vjde.2021.50.12 Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương https://vjde.vn/journal/article/view/371 <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hoá. <strong><em>Đối tượng và phương pháp: </em></strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 168 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tuyến giáp thể biệt hoá. Tất cả các đối tượng đều được khám lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng để đánh giá đặc điểm tuyến giáp, giai đoạn bệnh và đặc điểm nồng độ T3, FT4, TSH, TG và anti-TG huyết thanh. <strong><em>Kết quả: </em></strong>Đặc điểm u tuyến giáp trong nghiên cứu này là: mật độ mềm, ranh giới rõ, bề mặt nhẵn, u di động, ấn đau tức và tiến triển chậm. Đặc điểm tuyến giáp trên siêu âm là có thể tích không đều, đa nhân, nằm cả 2 thuỳ, chủ yếu dạng đặc, rõ ranh giới với mô xung quanh và vôi hoá tuyến. Giá trị trung bình nồng độ các hormone tuyến giáp như T3, FT4 và TSH huyết thanh trong giới hạn bình thường. Nồng độ TG huyết thanh trung bình là 20,03 µg/l, tỷ lệ tăng là 49,5%. Nồng độ anti-TG huyết thanh trung bình là 33,75 UI/ml, tỷ lệ tăng là 42,9%. <strong><em>Kết luận: </em></strong>Lâm sàng và cận lâm sàng chỉ thể hiện đặc điểm tại tuyến giáp và tăng nồng độ TG và anti-TG huyết thanh.</p> Trần Thị Đoàn Nguyễn Vinh Quang Nguyễn Ngọc Hùng Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 99 105 10.47122/vjde.2021.50.13 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân Basedow tái phát https://vjde.vn/journal/article/view/372 <p><strong><em>Tổng quan</em></strong><em>: </em>Basedow là một bệnh nội tiết khá thường gặp, bệnh có ảnh hưởng rất nhiều cơ quan trong cơ thể, có thể gây ra những biến chứng năng, nhưng tỉ lệ bệnh Basedow tái phát sau điều trị còn khá cao. <strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân Basedow tái phát. <strong><em>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </em></strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 65 bệnh nhân Basedow tái phát tại BV Nội tiết TW từ tháng 7/2019 đến tháng 7/2020. <strong><em>Kết quả: </em></strong>Tuổi trung bình: 40,23 ± 14,79, độ tuổi từ 31-51 chiếm tỷ lệ nhiều nhất: 43,1%; 86,1% số bệnh nhân là nữ, thời gian mắc bệnh trung bình: 58,4 ± 28,4 tháng, thời gian điều trị trung bình trước khi ngừng thuốc là 26,2 ± 12,6 tháng, thời gian tái phát lại sau điều trị: 31,7 ± 23,1 tháng trong đó tái phát sau khoảng thời gian</p> <p>12 tháng – 24 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 41,5%; điều trị nội khoa: 95,4 %, iod phóng xạ: 4,6%. Tiền sử stress: 23,1%. Tái phát sau sinh có 15 bệnh nhân chiếm 55,6% trong số 27 bệnh nhân nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 20 - 40 tuổi. Có 15,4% BN tái phát nhiều lần. Các triệu chứng của cường giáp rõ rệt trên lâm sàng, xét nghiệm FT3, FT4 tăng cao, TSH giảm thấp trong 100% các trường hợp Basedow tái phát. <strong><em>Kết luận: </em></strong>Bệnh gặp chủ yếu ở nữ giới, tỉ lệ nam/nữ là 1/6, lứa tuổi 30-50 tuổi chiếm đa số. Điều trị chủ yếu là nội khoa, thời gian tái phát lại bệnh thường từ 12-24 tháng. Hầu hết các bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm điển hình của bênh nhân Basedow. Nam giới và tuổi &lt; 30 có liên quan đến thời gian tái phát bệnh sớm hơn.</p> Nguyễn Thị Phương Thúy Nguyễn Quang Bảy Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 106 111 10.47122/vjde.2021.50.14 Khảo sát giá trị của xét nghiệm TSI trong chẩn đoán bệnh cường giáp do thai kỳ https://vjde.vn/journal/article/view/373 <p>TSI (Thyroid Stimulating Immunoglobulin) là xét nghiệm định lượng kháng thể kích thích tuyến giáp TRSAb (Thyrotropin Receptor Stimulating Antibody), vì vậy đặc hiệu hơn xét nghiệm TRAb trong chẩn đoán bệnh Basedow, có giá trị chẩn đoán phân biệt bệnh Basedow ở phụ nữ mang thai và bệnh cường giáp do thai kỳ. <strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Khảo sát giá trị chẩn đoán phân biệt của xét nghiệm TSI ở bệnh nhân cường giáp do thai kỳ với bệnh nhân Basedow mang thai. <strong><em>Đối tượng và phương pháp: </em></strong>Mô tả, theo dõi dọc trên 30 bệnh nhân cường giáp do thai kỳ điều trị nội trú tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương&nbsp;&nbsp; từ 03/2018 – tháng 12/2019. <strong><em>Kết quả: </em></strong>30 bệnh nhân cường giáp do thai kỳ có kết quả TSI nhỏ hơn 0,55 IU/L và kết quả TRAb lớn hơn 1,58 IU/L. <strong><em>Kết luận: </em></strong>TSI có giá trị chẩn đoán đặc hiệu hơn so với xét nghiệm TRAb trong chẩn đoán bệnh cường giáp do thai kỳ.</p> Lương Quỳnh Hoa Hoàng Kim Ước Nguyễn Thị Tân Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 112 118 10.47122/vjde.2021.50.15 Giá trị của phương pháp chọc hút tế bào bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương https://vjde.vn/journal/article/view/374 <p><strong><em>Mục tiêu</em></strong><em>: </em>Xác định giá trị giá trị chẩn đoán của xét nghiệm tế bào học bằng chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp tại Bệnh viện Nội Tiết Trung Uơng<em>. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong></em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 862 bệnh nhân có xét nghiệm tế bào học bằng chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm tại Khoa Huyết học và Chẩn đoán tế bào, Bệnh viện Nội tiết Trung ương từ tháng 12 năm 2020 đến tháng 10 năm 2021. <strong><em>Kết quả: </em></strong>Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 47,29 ± 12,68. Tỷ lệ nữ/nam là 6,9/1. Kết quả tế bào học theo hệ thống Bethesda: nhóm ác tính 40,7%, nghi ngờ ác tính 6,0%, nhóm lành tính 47,6% và các nhóm còn lại chiếm 5,7%. Kết quả mô bệnh học sau phẫu thuật: nhóm ung thư chiếm 49,5%, nhóm không ung thư chiếm 50,5%. Đối chiếu với kết quả mô bệnh học thấy xét nghiệm tế bào học bằng chọc hút kim nhỏ tuyến giáp dưới hướng dẫn siêu âm có độ nhạy 92,7%, độ đặc hiệu 98,4%, độ chính xác là 95,6%, giá trị dự đoán dương tính 98,3%, giá trị dự đoán âm tính 93,2% và tỉ lệ dương tính giả 1,6%, âm tính giả 7,3%. <strong><em>Kết luận</em></strong><em>: </em>Xét nghiệm tế bào học chọc hút kim nhỏ tuyến giáp dưới hướng dẫn siêu âm có độ chính xác 95,6%, độ nhạy, độ đặc hiệu lần lượt là 92,7% và 98,4%.</p> Khuất Duy Anh Nguyễn Thị Quỳnh Giang La Thị Loan Đỗ Thị Yến Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 119 126 10.47122/vjde.2021.50.16 Đánh giá biến đổi glucose máu sau sinh ở người bệnh phát hiện đái tháo đường khi mang thai tại Khoa Nội tiết Sinh sản https://vjde.vn/journal/article/view/390 <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Đánh giá tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose sau sinh ở 2 nhóm thai phụ đái tháo đường mang thai và đái tháo đường thai kì và một số yếu tố liên quan với tình trạng rối loạn dung nạp glucose. <strong><em>Phương pháp nghiên cứu: </em></strong>Tiến cứu mô tả cắt ngang; từ tháng 2/2020 đến tháng 10/2020 tại khoa Nội tiết sinh sản – Bệnh viện Nội tiết trung ương. Có 100 thai phụ được lựa chọn: trong đó 50 thai phụ đái tháo đường mang thai (ĐTĐ mang thai) và 50 thai phụ đái tháo đường thai kì (ĐTĐTK). Các ĐTNC này được khám, theo dõi và kiểm soát glucose máu bằng chế độ dinh dưỡng hay insulin. Sau sinh 6 tuần được hẹn tái khám để làm nghiệm pháp dung nạp glucose đánh giá lại chuyển hóa glucose. Kết quả cho thấy: nhóm đái tháo đường mang thai có 80% các ĐTNC còn tồn tại rối loạn dung nạp glucose ở các mức độ (rối loạn glucose lúc đói 6%; suy giảm dung nạp glucose 30%; đái tháo đường 44%); nhóm đái tháo đường thai kì có 50% ĐTNC còn tồn tại rối loạn dung nạp glucose ở các mức độ (2% rối loạn glucose lúc đói, 34% suy giảm dung nạp glucose; 14% đái tháo đường); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,002). Tình trạng rối loạn dung nạp glucose sau sinh có liên quan với tăng glucose máu lúc đói ≥ 5,6 mmol/l khi mang thai (OR=6,06; p=0,015) và dùng insulin khi mang thai (OR=2,03; p=0,0001). <strong><em>Kết luận: </em></strong>Nhóm ĐTĐ mang thai có tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose sau sinh cao hơn nhóm ĐTĐTK; tăng glucose máu lúc đói ≥ 5,6 mmol/l và có dùng insulin khi mang thai có mối liên quan làm tăng nguy cơ rối loạn dung nạp glucose sau sinh. Do đó cần sàng lọc đái tháo đường sau sinh 6 tuần bằng nghiệm pháp dung nạp glucose cho tất cả thai phụ mắc ĐTĐ khi mang thai đặc biệt những thai phụ đạt tiêu chuẩn ĐTĐ mang thai.</p> Vũ Thị Hiền Trinh Vũ Thị Hoài Thu Phạm Quang Đạt Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 163 170 10.47122/vjde.2021.50.19 Khảo sát biến chứng thận sớm bằng chỉ số albumin/creatinin niệu ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 chưa đạt mục tiêu kiểm soát glucose máu https://vjde.vn/journal/article/view/391 <p><strong><em>Mục tiêu nghiên cứu</em></strong><em>: </em>Khảo sát biến chứng thận sớm bằng chỉ số A/C và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) typ 2 chưa đạt mục tiêu kiểm soát glucose máu. <strong><em>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</em></strong><em>: </em>Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 180 bệnh nhân mắc đái tháo đường (ĐTĐ) typ 2 khám theo dõi tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương từ tháng 10/2020 đến tháng 09/2021 với tiêu chuẩn chưa kiểm soát được glucose máu (HbA1c ≥ 7,0%), mức lọc cầu thận (MLCT) ≥ 60ml/phút/1,73m<sup>2</sup>. Biến chứng thận sớm được đánh giá bằng chỉ albumin niệu với số albumin/creatinin (A/C) niệu ≥ 3mg/mmol. <strong><em>Kết quả: </em></strong>Tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 63,2 ± 9,1 tuổi (34-86 tuổi), nữ chiếm đa số (63,3%), thời gian phát hiện bệnh trung bình là 12,4 ± 7,4 năm. Tỷ lệ albumin niệu theo chỉ số A/C niệu ≥ 3mg/mmol là 35,0%, trong đó microalbumin niệu là 32,2% và macroalbumin niệu là 2,8%. Tăng huyết áp (HA) tâm thu ≥ 130mmHg, tăng HA tâm trương ≥ 80mmHg, glucose máu đói cao ≥ 7,2 mmol/L và HbA1c cao ≥ 8,5% có liên quan với tăng nguy cơ albumin niệu. Khi được hiệu chỉnh bới các yếu tố khác bao gồm tuổi, giới, thời gian mắc ĐTĐ, tăng BMI, tăng HA tâm trương, glucose máu lúc đói cao và HbA1c cao vẫn có liên quan độc lập với tăng nguy cơ albumin niệu. <strong><em>Kết luận: </em></strong>Tỷ lệ biến chứng thận sớm với chỉ số A/C niệu tăng mà chưa có giảm MLCT đáng kể (MLCT còn ≥ 60ml/phút/1,73m<sup>2</sup>) trên bệnh nhân ĐTĐ type 2 chưa đạt mục tiêu kiểm soát glucose máu là khá cao và có liên quan độc lập với glucose máu lúc đói cao, HbA1c cao và HA tâm trương cao.</p> Lê Quang Toàn Nguyễn Thị Quỳnh Hoa Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 171 177 10.47122/vjde.2021.50.20 Khảo sát thực trạng lựa chọn thuôc hạ glucose máu ở các bệnh nhân đái tháo đường type 2 mới phát hiện tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương https://vjde.vn/journal/article/view/392 <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Khảo sát thực trạng lựa chọn thuốc hạ glucose máu ở các bệnh nhân ĐTĐ type 2 mới phát hiện tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. <strong><em>Đối tượng và phương pháp</em>: </strong>Nghiên cứu quan sát trên 204 bệnh nhân tuổi từ 16-81 mới được chẩn đoán xác định bệnh ĐTĐ type 2 đến khám tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. <strong><em>Kết quả</em>: </strong>Metformin được chỉ định ở 85% bệnh nhân dùng đơn trị thuốc uống hạ glucose máu. Các kết hợp thuốc uống thường dùng nhất là metformin phối hợp với ức chế DPP4 và với ức chế SGLT2, chiếm lần lượt 41,9% và 22,6% trong các phác đồ kết hợp thuốc uống. Trong các phác đồ có insulin, insulin đơn trị và kết hợp metformin chiếu hầu hết các trường hợp, lần lượt 62,5% và 21,3%. Ở bệnh nhân có HbA1c &lt; 7%, 88,5% được dùng thuốc uống đơn trị; với mức HbA1c 7 - &lt;8,5%: 64% dùng kết hợp thuốc uống và 32% dùng thuốc uống đơn trị; với mức HbA1c 8,5 - &lt;10%: 67,9% dùng thuốc uống kết hợp, 32,1% có dùng insulin; với mức HbA1c ≥ 10%: 88,4% có dùng insulin, 10,3% dùng thuốc uống kết hợp. <strong><em>Kết luận: </em></strong>Ở bệnh nhân ĐTĐ type mới được chẩn đoán tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương, metformin là thuốc được sử dụng ở hầu hết bệnh nhân, cả đơn trị và kết hợp. Các thuốc uống hạ glucose máu thế hệ mới cũng được sử dụng ở môt tỷ lệ đáng kể bệnh nhân, nhiều hơn so với sulfonylurea. Phần lớn chỉ định các phác đồ thuốc hạ glucose máu tuân theo các khuyến cáo chung hiện nay. Tuy nhiên, có tình trạng điều trị kiểm soát glucose máu tích cực quá mức ở bệnh nhân có tình trạng gluose máu tăng mức nhẹ đến trung bình và ngược lại có tình trạng điều trị thiếu tích cực ở bệnh nhân có tình trạng glucose máu rất cao.</p> Lê Quang Toàn Hoàng Thu Trang Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 178 185 10.47122/vjde.2021.50.21 Khảo sát một số chỉ số dẫn truyền thần kinh chi dưới ở 126 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 https://vjde.vn/journal/article/view/394 <p>Chỉ số dẫn truyền thần kinh là 1 trong các chỉ số để đánh giá tổn thương dây thần kinh ở bệnh nhân ĐTĐ type 2. <strong><em>Mục tiêu nghiên cứu: </em></strong>Xác định bất thường về chỉ số dẫn truyền thần kinh chi dưới ở bệnh nhân ĐTĐ type 2. <strong><em>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</em></strong><em>: </em>126 bệnh nhân ĐTĐ type 2 đến khám và điều trị tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương . Sử dụng máy dẫn truyền thần kinh Viking Quest. <strong><em>Kết quả nghiên cứu</em></strong>: Dây thần kinh hông kheo ngoài: thời gian tiềm tàng 10,53 ± 1,3 (ms) (bên trái) 10,42 ± 1,25 (ms) (bên phải); biên độ đáp ứng: 3,95 ± 1,94 (mV) (bên trái) 3,92 ± 1,69 (mV) (bên phải) và tốc độ dẫn truyền: 44,19 ± 4,05 (m/s) (bên trái) 44,77 ± 3,63 (m/s) (bên phải), không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa bên phải và bên trái. Dây thần kinh hông kheo trong: thời gian tiềm tàng: 12,56 ± 1,61 (ms) (bên trái) 12,39 ± 1,69 (ms) (bên phải); biên độ đáp ứng: 9,67 ± 6,8 (mV) (bên trái) 8,84 ± 5,71 (mV) (bên phải); tốc độ dẫn truyền: 43,26</p> <p>± 4,69 (m/s) (bên trái) 42,85 ± 4,06 (m/s) (bên phải) không có sự khác biệt giữa bên phải và bên trái với p &gt; 0,05. Dây thần kinh bì bắp chân: thời gian tiềm tàng: 2,43 ± 0,49 (ms) (bên phải) 2,46 ± 0,48 (ms) (bên trái); biên độ đáp ứng: 11,59 ± 5,44 (µV) (bên phải) 13,76 ± 7,72 (µV) (bên trái); tốc độ dẫn truyền 53,49 ± 6,70 (m/s) (bên trái) 53,35 ± 5,3 (m/s) (bên phải) và không có sự khác biệt giữa bên phải và bên trái với p&gt;0,05. Dây thần kinh mác nông: thời gian tiềm: 2,15 ± 0,5 (ms) (bên phải) 2,12 ± 0,38 (ms) (bên trái); biên độ 10,76 ± 5,5 (µV) (bên trái) 9,82 ± 4,68 (µV) (bên phải) lớn; vận tốc 55,78 ± 5,06 (m/s) (bên phải) 55,10 ± 5,57 (m/s) (bên trái) và không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa bên phải và bên trái với p &gt; 0,05. <strong><em>Kết luận</em></strong>: 100% các đối tượng nghiên cứu có bất thường về dẫn truyền thần kinh của dây thần kinh chi dưới không có sự khác biệt giữa bên phải và bên trái.</p> Phạm Thúy Hường Phạm Tuấn Phương Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 194 200 10.47122/vjde.2021.50.23 Mối liên quan giữa hạ đường huyết và một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 nhập viện cấp cứu https://vjde.vn/journal/article/view/408 <p>Hạ đường huyết là biến chứng thường gặp do điều trị đái tháo đường típ 2, là nguyên nhân phổ biến khiến bệnh nhân phải nhập viện cấp cứu, có thể để lại hậu quả nặng nề, thậm chí tử vong, làm tăng chi phí điều trị. Có nhiều yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng hạ đường huyết. <strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Tìm hiểu mối liên quan giữa hạ đường huyết và một số yếu tố nguy cơ. <strong><em>Đối tượng nghiên cứu: </em></strong>63 bệnh nhân người lớn đái tháo đường típ 2 nhập viện do hạ đường huyết tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Nội tiết Trung ương từ tháng 8/2019 đến 8/2020. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu có theo dõi dọc, phân tích, đánh giá kết quả điều trị và một số yếu tố liên quan. <strong><em>Kết quả và kết luận: </em></strong>Có sự khác biệt đáng kể về mức độ nặng hạ đường huyết giữa các nhóm bệnh nhân có tiền sử hạ đường huyết nhập viện (p = 0,001), dùng insulin sai cách (p = 0,003), đang dùng sulfonylurea (p = 0,001) và bệnh nền suy thận (p = 0,01). Không có sự khác biệt đáng kể về mức độ nặng hạ đường huyết giữa các nhóm thời gian mắc ĐTĐ típ 2, bệnh nền suy gan và nhiễm trùng. Có sự khác biệt đáng kể về thời gian hết triệu chứng &lt; 30 phút và ≥ 30 phút giữa các nhóm bệnh nhân có tiền sử hạ đường huyết nhập viện ( p= 0,038), dùng thuốc sai (p = 0,002), mức độ hạ đường huyết (p &lt; 0,001) và được xử trí trước viện (p = 0,004). Không có sự khác biệt đáng kể về thời gian hết triệu chứng giữa các nhóm tuổi, giới và thời gian mắc ĐTĐ típ 2.</p> Nguyễn Minh Tuấn Trần Văn Đồng Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 201 208 10.47122/vjde.2021.50.24 Nghiên cứu nồng độ Testosterone huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 nam giới tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương https://vjde.vn/journal/article/view/409 <p>Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh lý rối loạn chuyển hóa mạn tính phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam.Sự gia tăng các biến chứng do ĐTĐ gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, một trong số đó là giảm nồng độ Testosteron gâyrối loạn khả năng tình dục và toàn thân. Hiện nay vai trò của Testosterone ngày càng được làm sáng tỏ hơn, không chỉ tác dụng trên cơ quan sinh dục mà Testosteron còn có tác dụng lên hệ thần kinh, tâm thần, nội tiết, cơ quan tạo máu, hệ cơ xương, và được xem như một yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch [1]. Các bằng chứng đã cho thấy có sự suy giảm một cách đáng kể nồng độ testosterone dẫn đến suy sinh dục ở nam giới ĐTĐ so với nam giới không bị ĐTĐ ở mọi lứa tuổi.Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam để tìm hiểu về tình hình rối loạn cương ở bệnh nhân ĐTĐ [2] nhưng chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá về tình trạng testosterone đặc biệt Testosterone tự do trên đối tượng này. Vì thế chúng tôi làm đề tài: <em>“Nghiên cứu nồng độ Testosterone huyết thanh ở bệnh nhân nam mắc đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương”.</em></p> Trần Văn Lưu Lương Quỳnh Hoa Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 209 214 10.47122/vjde.2021.50.25 Đánh giá hiệu quả của can thiệp đào tạo cho người bệnh đái tháo đường típ 2 sử dụng insulin tại Bệnh viện Nội tiết trung ương https://vjde.vn/journal/article/view/410 <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Đánh giá hiệu quả của can thiệp tập huấn đào tạo bởi dược sĩ cho người bệnh đái tháo đường típ 2 có sử dụng insuln về thực hành sử dụng bút tiêm insulin và một số chỉ số lâm sàng như HbA1c và tỉ lệ nhập viện liên quan đến đái tháo đường tại bệnh viện Nội tiết Trung ương. <strong><em>Đối tượng và phương pháp: </em></strong>Đối tượng nghiên cứu là người bệnh đái tháo đường típ 2 có sử dụng bút tiêm điều trị ngoại trú đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ. Thiết kế nghiên cứu can thiệp được thực hiện. Can thiệp được thực hiện là đào tạo tập trung bởi dược sĩ lâm sàng về thực hành sử dụng bút tiêm insulin và tuân thủ sử dụng thuốc. Trước can thiệp sử dụng phương pháp khảo sát trực tiếp bằng bộ câu hỏi và sau can thiệp sử dụng phỏng vấn qua điện thoại. 221 người bệnh tham gia khảo sát&nbsp; &nbsp;trước và sau can thiệp được đưa vào so sánh. <strong><em>Kết quả: </em></strong>Sau can thiệp 7 trong số 8 bước thực hành với bút tiêm insunlin được cải thiện và khác biệt có ý nghĩa thống kê. Trung bình HbA1c sau can thiệp giảm và khác biệt có ý nghĩa thống kê (Chênh: -027 95CI: -0,12 đến -0,42). Tỉ lệ không nhập viện sau can thiệp tăng (76,9% trước can thiệp và 82,4% sau can thiệp). Kết luận: Nghiên cứu cho thấy can thiệp đào tạo bởi dược sĩ được xem là phương pháp mang lại hiệu quả để cải thiện thực hành và chỉ số lâm sàng ở người bệnh đái tháo đường típ 2.</p> Lê Thị Uyển Lê Thu Thủy Nguyễn Phương Chi Nguyễn Thị Song Hà Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 215 222 10.47122/vjde.2021.50.26 Đặc điểm điện tâm đồ ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên hình “Bia mộ” https://vjde.vn/journal/article/view/411 <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Mô tả đặc điểm điện tâm đồ ở bệnh nhân NMCT cấp ST chênh lên hình “bia mộ” tại Viện Tim mạch Việt Nam, giai đoạn 2017-2019. <strong><em>Kết quả: </em></strong>Tần số tim ở nhóm NMCT ST chênh hình “bia mộ” là 104.2±21.6 cao hơn ở nhóm NMCT ST chênh lên không có hình “bia mộ” và tỷ lệ rối loạn nhịp là 8.9% cao hơn so với nhóm NMCT ST chênh lên không có hình “bia mộ” với p&lt;0.05. Tỷ lệ nhịp nhanh thất và rung thất ở nhóm NMCT ST chênh lên hình “bia mộ” là 8.93% và 26.8%, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm NMCT ST chênh lên không có hình “bia mộ” với p&lt;0.05. Tỷ lệ NMCT ST chênh lên hình “bia mộ” gặp chủ yếu ở các chuyển đạo trước tim với tỷ lệ lần lượt từ V2-V6 là 87.5%, 91.1%, 91.1%, 89.3%, 64.3%; cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm NMCT ST chênh lên không có hình “bia mộ” với p&lt;0.05. <strong><em>Kết luận: </em></strong>Rối loạn nhịp nhanh thất và rung thất ở bệnh nhân NMCT ST chênh lên hình “bia mộ” cao hơn ở bệnh nhân NMCT ST chênh lên không có hình “bia mộ”. NMCT ST chênh lên hình “bia mộ” gặp chủ yếu ở chuyển đạo trước tim V2-V6.</p> Vũ Thị Thanh Loan Phạm Minh Tuấn Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 223 227 10.47122/vjde.2021.50.27 Khởi trị insulin ở người bệnh đái tháo đường típ 2: mô tả các quan điểm và xác định các rào cản trong số các bác sĩ tại Việt Nam https://vjde.vn/journal/article/view/413 <p><strong><em>Dẫn nhập: </em></strong>Đái tháo đường típ 2 là bệnh lý diễn tiến theo thời gian. Hầu hết người bệnh đều cần insulin - một trong các trị liệu hiệu quả nhất để đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết. Tuy nhiên, có sự do dự trong việc khởi trị insulin ở các bác sĩ tại Việt Nam. <strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Nghiên cứu chúng tôi nhằm mô tả quan điểm của bác sĩ về khởi trị insulin ở đái tháo đường típ 2, đồng thời xác định các rào cản tiềm ẩn. <strong><em>Phương pháp: </em></strong>Đây là nghiên cứu cắt ngang năm 2016. Đối tượng nghiên cứu là các bác sĩ tham gia khóa huấn luyện VDCP (Vietnam Diabetes Care Program) tại đồng bằng sông Mê-kông - một dự án hợp tác đào tạo giữa Bộ Y tế Việt Nam và công ty Novo Nordisk. Dựa vào y văn và kinh nghiệm lâm sàng, bộ câu hỏi khảo sát bao gồm (i) kiến thức của bác sĩ; (ii) quan điểm và mối quan tâm của bác sĩ; và (iii) các yếu tố về hệ thống y tế liên quan đến việc khởi trị insulin. <strong><em>Kết quả: </em></strong>Nghiên cứu đã đưa ra một đánh giá tổng quan về lý do trì hoãn khởi trị insulin cùng với xác định các rào cản chính trong số các bác sĩ tham gia (n=132, tuổi trung bình 40, 46% nam; 70.1% chuyên khoa Nội tổng quát). 48% các bác sĩ cho rằng có sự do dự khi khởi trị insulin trong thực hành lâm sàng. Tuy nhiên có sự tích cực liên quan kiến thức về tiêu chuẩn khởi trị insulin với 95% đồng ý mức HbA1c từ 7% trở lên và 78% đồng ý thời gian mắc đái tháo đường dưới 7 năm. Rào cản chính yếu đó là bác sĩ có ít cơ hội tham dự các khóa tập huấn về sử dụng insulin (68%), trong khi đó thiếu giáo dục người bệnh về insulin (96.9%) và thiếu các nhóm chuyên trách đái tháo đường trong hệ thống y tế (82.7%) cũng góp phần lớn trong trì hoãn khởi trị insulin ở đái tháo đường típ 2. <strong><em>Kết luận: </em></strong>Có sự khác biệt giữa kiến thức về tiêu chuẩn khởi trị insulin và sự trì hoãn khởi trị insulin cho đái tháo đường típ 2 của các bác sĩ. Cần tổ chức các chương trình đào tạo liên tục về sử dụng insulin đồng thời xây dựng các nhóm chăm sóc đái tháo đường có thể giúp các bác sĩ khởi trị insulin một cách thuận lợi cho người bệnh đái tháo đường típ 2.</p> Võ Tuấn Khoa Nguyễn Thy Khuê Bản quyền (c) 2022 Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology 2022-08-20 2022-08-20 50 234 240 10.47122/vjde.2021.50.29