Nghiên cứu rối loạn thần kinh nhận thức qua thang điểm MMSE và MoCA trên bệnh nhân đái tháo đường type 2 có suy giảm nhận thức

Từ khóa

rối loạn thần kinh nhận thức
thang điểm MMSE và MoCA
đái tháo đường type 2
suy giảm nhận thức Mini Mental State Examination (MMSE)
Montreal Cognitive Assessement (MoCA)
Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM–5). Cognitive impairment
Neurocognitive disorders

Ngôn ngữ sử dụng

Cách trích dẫn

Nguyễn, V. V. H., Nguyễn, H. T., & Hoàng, M. L. (2021). Nghiên cứu rối loạn thần kinh nhận thức qua thang điểm MMSE và MoCA trên bệnh nhân đái tháo đường type 2 có suy giảm nhận thức . Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology, (37), 74-82. https://doi.org/10.47122/vjde.2019.37.9

Tóm tắt

Đặt vấn đề và mục tiêu: Đái tháo đường được xem là yếu tố nguy cơ độc lập về suy giảm nhận thức thần kinh và ssa sút trí tuệ. Trong nghiên cứu này chúng tôi đánh giá tình trạng rối loạn thần kinh nhận thức (RLTKNT) qua hai thang điểm MMSE và MoCA trên bệnh nhân đái tháo đường type 2 có suy giảm nhận thức thần kinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang 102 bệnh nhân đái tháo đường type 2 từ 45 tuổi trở lên có suy giảm thần kinh nhận thức theo tiêu chuẩn DSM-5. Bệnh nhân được khảo sát mức độ RLTKNT qua hai thang điểm MMSE và MoCA. Kết quả: Tỷ lệ RLTKNT nhẹ là 41,18% và RLTKNT điển hình là 58,82%. Điểm số MMSE trung bình là 25,72±4,10 điểm và MoCA trung bình là 20,73±5,08 điểm, trong đó điểm số ở nhóm nam cao hơn nhóm nữ. Số điểm đánh giá RLTKNT nhẹ theo MMSE là 27,83±1,87 và MoCA là 24,86±2,62, p< 0,0001. Số điểm đánh giá RLTKNT điển hình theo MMSE là 24,23±4,56   và    MoCA:17,83±4,33,p<0,0001. Thang điểm MoCA có độ nhạy và đồ đặc hiệu cao hơn MMSE trong tầm soát RLTKNT với AUC ROC 92,6% (Se= 92,9%, Sp=  80,0%)  so  với  75,3%  (Se=73,8%, Sp=60,0%), tương ứng trong đó điểm cắt mới của bệnh nhân đái tháo đường với MoCA là 21  và MMSE là 23. Kết luận: Điểm cắt mới của bệnh nhân đái tháo đường RLTKNT thấp hơn giá trị bình thường, trong đó thang điểm MoCA nhạy hơn MMSE.

https://doi.org/10.47122/vjde.2019.37.9